Tiếp thu ý kiến, kiến nghị của cử tri do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh thông báo tại Kỳ họp thứ 5, HĐND tỉnh khoá XVI, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành, đơn vị có liên quan tập trung giải quyết những vấn đề cử tri đã kiến nghị, kết quả thực hiện như sau:

1. Cử tri đề nghị cần ban hành chính sách chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng vùng sản xuất cói.

Hiện nay, trên địa bàn toàn tỉnh có 5.000 ha đất trồng cói, tập trung chủ yếu trên địa bàn các huyện Nga Sơn và Quảng Xương. Trong những năm qua, cây cói là một trong những cây trồng chủ lực trong cơ cấu phát triển nông nghiệp và nghề cói đã trở thành nghề truyền thống, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân vùng cói.

Tuy nhiên, diện tích, sản lượng cói của các xã vùng cói trong những năm qua phát triển không ổn định và sản xuất cói đang gặp khó khăn do giống năng suất thấp, đầu tư thâm canh hạn chế, hệ thống thủy lợi nội đồng chưa được đầu tư xây dựng; cơ sở vật chất phục vụ chế biến cói còn lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu; thị trường tiêu thụ nguyên liệu, sản phẩm cói không ổn định, giá cói phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc; giá vật tư, nguyên liệu đầu vào tăng cao nên hiệu quả của nghề cói thấp, đời sống người trồng cói gặp nhiều khó khăn.

Để có cơ sở đầu tư đồng bộ hạ tầng, nâng cao năng suất, sản lượng, chất lượng cây cói nhằm giảm giá thành, nâng cao khả năng cạnh tranh của nguyên liệu, sản phẩm cói, UBND tỉnh đã chỉ đạo và phối hợp với Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đưa giống cói bông trắng vào sản xuất; đồng thời ban hành Quyết định số 2241/QĐ-UBND ngày 18/7/2012 phê duyệt quy hoạch vùng cói tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020. Trong quy hoạch đã xác định rõ định hướng, giải pháp phát triển sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm cói đến năm 2020. Tuy nhiên, do điều kiện ngân sách tỉnh còn khó khăn nên chưa có điều kiện cân đối, bố trí vốn đầu tư cơ sở hạ tầng vùng cói theo quy hoạch. UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và PTNT nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm cói để đưa vào Chương trình công tác của UBND tỉnh, trình HĐND tỉnh xem xét, quyết định khi cân đối được nguồn vốn.

2. Cử tri phản ánh giá thu mua mía nguyên liệu vụ ép 2012-2013 là quá thấp, ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của người trồng mía.

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT tại hội nghị tổng kết sản xuất mía đường niên vụ 2012 - 2013, do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế và thực hiện cam kết gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) nên cung - cầu đường trên thị trường trong nước mất cân đối, cung lớn hơn cầu khoảng 200.000 tấn, dẫn đến giá đường niên vụ 2012 - 2013 thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước. Ở Thanh Hóa, giá đường kính trắng trước thuế tại nhà máy khoảng 14 triệu đồng/tấn, có thời điểm giảm xuống 13 triệu đồng/tấn, thấp hơn so với cùng kỳ từ 4-5 triệu đồng/tấn.

Trước tình hình trên, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và PTNT tổ chức đi khảo sát thực địa, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của các nhà máy đường và người trồng mía; tổ chức hội nghị với các ngành liên quan, các địa phương trong vùng nguyên liệu mía và các nhà máy đường để bàn giải pháp thu mua, chế biến mía niên vụ 2012 - 2013. Hội nghị đã bàn bạc và thống nhất giá thu mua mía nguyên liệu niên vụ 2012-2013 là 950.000 đồng/tấn mía sạch 10CCS tại bãi bốc xếp hoặc nơi mà xe ô tô có thể ra vào. Ngay sau hội nghị, các công ty mía đường đã thông báo công khai giá thu mua mía nguyên liệu niên vụ 2012 – 2013 cho nhân dân biết và tổ chức thu mua theo đúng giá đã thông báo. Như vậy, giá thu mua mía nguyên liệu niên vụ ép 2012-2013 được xác định như trên là hoàn toàn phù hợp, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp sản xuất đường và người trồng mía.

3. Cử tri đề nghị tăng cường kiểm tra hoạt động kinh doanh giống cây trồng và vật tư nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Trong những năm qua, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố tăng cường quản lý chất lượng vật tư hàng hóa nông nghiệp và vệ sinh an toàn thực phẩm; đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của người sản xuất, kinh doanh và người dân về chất lượng giống cây trồng và vật tư nông nghiệp; ứng dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học kỹ thuật để sản xuất giống mới có năng suất, chất lượng cao; tăng cường kiểm tra, đánh giá, phân loại các cơ sở sản xuất kinh doanh giống cây trồng, phân bón, nên chất lượng giống cây trồng và phân bón không ngừng được nâng lên, góp phần nâng cao năng suất, sản lượng và hiệu quả của ngành sản xuất nông nghiệp.

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT, công tác thanh tra, kiểm tra chất lượng giống cây trồng, phân bón trên địa bàn tỉnh trong những năm qua chưa phát hiện có phân bón giả, giống cây giả lưu hành trên thị trường. Trong các năm 2009 – 2012, qua kiểm tra cho thấy tỷ lệ mẫu giống vi phạm khi kiểm nghiệm giao động trong khoảng 6 - 9%, chủ yếu là vi phạm nhãn mác hàng hóa; tỷ lệ mẫu phân bón kiểm nghiệm vi phạm chất lượng giao động trong khoảng 5,5-11,5%. Các vi phạm về giống cây trồng và phân bón đều được các cơ quan chức năng phát hiện kịp thời, xử phạt nghiêm theo quy định, thu nộp ngân sách trên 500 triệu đồng; đồng thời thông báo công khai các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng, phân bón vi phạm chất lượng trên trang thông tin điện tử của Sở Nông nghiệp và PTNT để nhân dân biết, phòng tránh.

4. Cử tri huyện Bá Thước đề nghị chuyển đổi diện tích đất lâm nghiệp hiệu quả thấp sang trồng mía nguyên liệu.

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT, diện tích đất lâm nghiệp hiệu quả thấp trên địa bàn huyện Bá Thước mà cử tri đề nghị chuyển sang trồng mía nguyên liệu là diện tích đất của Công ty Lâm nghiệp Cẩm Ngọc quản lý, sử dụng; đã được UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; nằm trong vùng quy hoạch nguyên liệu giấy của Nhà máy giấy Châu Lộc đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự án đầu tư tại Quyết định số 223/2003/QĐ-TTG ngày 03/11/2003, do Tổng công ty Giấy Việt Nam làm chủ đầu tư.

Hiện nay, Công ty Lâm nghiệp Cẩm Ngọc đang sản xuất, kinh doanh trồng rừng gỗ nguyên liệu và trồng luồng trên diện tích được giao quản lý. Vì vậy, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp sang đất trồng mía nguyên liệu phải có ý kiến của Thủ tướng Chính phủ và Tổng công ty Giấy Việt Nam. Sở Nông nghiệp và PTNT đang đấu mối, làm việc với Tổng công ty Giấy Việt Nam về nội dung cử tri đề nghị, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, giải quyết.

5. Cử tri đề nghị đẩy nhanh tiến độ bàn giao đất của Công ty TNHH một thành viên Cao su Thanh Hóa (Nông trường Bãi Trành) cho nhân dân quản lý, sử dụng.

Thực hiện Quyết định số 1596/QĐ-UBND ngày 28/5/2009 của UBND tỉnh về việc thu hồi đất của Nông trường Bãi Trành (nay là Công ty TNHH một thành viên Cao su Thanh Hóa) giao cho UBND các xã Xuân Hòa, Xuân Bình, Bãi Trành, huyện Như Xuân quản lý, Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với UBND huyện Như Xuân hướng dẫn, đôn đốc Công ty TNHH một thành viên Cao su Thanh Hóa và UBND các xã Xuân Bình, Xuân Hòa, Bãi Trành triển khai thực hiện quyết định nêu trên của UBND tỉnh. Tuy nhiên, do chưa thống nhất được ranh giới sử dụng đất và việc xử lý tài sản trên đất giữa UBND huyện Như Xuân và Công ty TNHH một thành viên Cao su Thanh Hóa nên chưa bàn giao đất cho UBND các xã Xuân Hòa, Xuân Bình, Bãi Trành, huyện Như Xuân quản lý, sử dụng theo quyết định của UBND tỉnh.

Trước tình hình trên, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với UBND huyện Như Xuân và Công ty TNHH một thành viên Cao su Thanh Hóa xác định ranh giới sử dụng đất; Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT, UBND huyện Như Xuân, Công ty một thành viên Cao su Thanh Hóa và các tổ chức, cá nhân liên quan xác định giá trị tài sản trên đất; UBND huyện Như Xuân chỉ đạo UBND các xã Xuân Hòa, Xuân Bình, Bãi Trành, huyện Như Xuân phối hợp với Công ty TNHH một thành viên Cao su Thanh Hóa khẩn trương hoàn thành hồ sơ, thủ tục để tiến hành bàn giao đất trên thực địa theo Quyết định số 1596/QĐ-UBND ngày 28/5/2009 của UBND tỉnh.

6. Cử tri huyện Mường Lát đề nghị đầu tư khai hoang 240 ha ruộng bậc thang để ổn định sản xuất và đời sống cho nhân dân các xã Pù Nhi và Nhi Sơn, huyện Mường Lát.

Thực hiện ý kiến kiến nghị của cử tri, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và PTNT chủ trì, phối hợp với UBND huyện Mường Lát và UBND các xã Pù Nhi, Nhi Sơn, huyện Mường Lát kiểm tra, rà soát diện tích đất đề nghị đầu tư khai hoang. Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT tổng diện tích đất thực tế đề nghị khai hoang là 320 ha, trong đó có 29 ha đất nông nghiệp chưa giao quản lý, sử dụng và 291 ha đất lâm nghiệp thuộc quy hoạch rừng sản xuất, đã được giao cho nhân dân quản lý, sử dụng lâu dài theo Nghị định số 02/CP ngày 15/3/1995 của Chính phủ. Tuy nhiên, diện tích đất trên bà con nông dân không áp dụng các biện pháp thâm canh, sản xuất phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên nên năng suất cây trồng thấp và không ổn định.

Để diện tích đất khai hoang của 2 xã Pù Nhi, Nhi Sơn, huyện Mường Lát được hưởng chính sách đầu tư cải tạo thành ruộng bậc thang theo quy định của Nhà nước, UBND tỉnh đã chỉ đạo UBND huyện Mường Lát rà soát 291 ha đất lâm nghiệp thuộc quy hoạch rừng sản xuất, nếu đủ điều kiện sản xuất lương thực và phù hợp với quy chế quản lý rừng thì hỗ trợ 05 triệu đồng/ha theo hướng dẫn tại Thông tư số 08/2009/TT-BNN ngày 26/02/2009 của Bộ Nông nghiệp và PTNT. Riêng đối với 29 ha đất chưa giao quản lý, sử dụng, trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất lúa đã được phê duyệt, UBND huyện Mường Lát chỉ đạo tổ chức khai hoang, phục hóa, cải tạo, nâng cao chất lượng đất để sản xuất lương thực và thực hiện hỗ trợ khai hoang, cải tạo đất trồng lúa theo hướng dẫn tại Thông tư số 205/2012/TT-BTC ngày 23/11/2012 của Bộ Tài chính.

7. Cử tri đề nghị đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp các công trình thủy lợi nhằm khắc phục tình trạng ngập úng, khô hạn, xâm nhập mặn trên địa bàn các huyện Tĩnh Gia, Thọ Xuân, Thiệu Hóa, Đông Sơn, Vĩnh Lộc và Thường Xuân.

Trong những năm qua, được sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương, cùng với sự nỗ lực, cố gắng của các cấp, các ngành trong tỉnh, nhiều công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh được đầu tư xây dựng, đã khắc phục cơ bản tình trạng ngập úng, khô hạn, xâm nhập mặn, cải thiện điều kiện sản xuất, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, do ngân sách tỉnh còn khó khăn, nguồn vốn Trung ương hỗ trợ cho tỉnh hàng năm rất hạn hẹp nên vẫn còn một số công trình, dự án thủy lợi quan trọng rất cần được đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp nhưng chưa cân đối được nguồn vốn như: hệ thống tiêu sông Hoàng; h ệ thống tiêu Thọ Xuân; hệ thống tiêu Ê – Trường Tuế và Tân Thành – Chiếu Thượng, huyện Đông Sơn; trạm bơm tiêu Quan Hoa, huyện Thọ Xuân; trạm bơm tưới xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc; trạm bơm tiêu xã Thiệu Hòa, huyện Thiệu Hóa; hồ chứa nước thôn Vịn, xã Bát Mọt, huyện Thường Xuân.

Trong điều kiện ngân sách tỉnh còn khó khăn, để khắc phục tình trạng ngập úng, khô hạn, xâm nhập mặn trên địa bàn các huyện nêu trên, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành, các địa phương tập trung huy động nguồn lực tại chỗ để khắc phục; đồng thời tích cực đấu mối với các Bộ, ngành Trung ương để được hỗ trợ vốn đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp các công trình thủy lợi, cải thiện điều kiện sản xuất cho nhân dân.

8. Cử tri đề nghị sửa chữa, khắc phục tình trạng xuống cấp của mặt đê hữu sông Mã, đoạn qua xã Thiệu Khánh, xã Thiệu Dương, thành phố Thanh Hóa; đầu tư xây dựng đê mới chống lũ cho các hộ dân xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Lộc.

Tiếp thu ý kiến kiến nghị của cử tri, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp với các địa phương, đơn vị liên quan kiểm tra thực tế, đề xuất biện pháp xử lý, khắc phục, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh.

- Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT, mặt đê hữu sông Mã, đoạn qua xã Thiệu Khánh, xã Thiệu Dương có chiều dài khoảng 3,4 km, đã được đầu tư gia cố bằng bê tông năm 2008 nhưng do có nhiều xe chở quá tải tham gia giao thông nên mặt đê nhiều đoạn đã xuống cấp nghiêm trọng, không đảm bảo an toàn đê điều, có nguy cơ mất an toàn giao thông và gây khó khăn cho công tác cứu hộ, hộ đê khi có sự cố xảy ra.

Trước tình hình trên, Sở Nông nghiệp và PTNT đã chỉ đạo Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hóa phối hợp với UBND các xã Thiệu Dương, Thiệu Khánh thường xuyên kiểm tra, xử lý nghiêm tình trạng xe chở quá tải đi trên tuyến đê. Sau khi xử lý dứt điểm tình trạng xe chở quá tải đi trên tuyến đê, UBND tỉnh sẽ báo cáo Bộ Nông nghiệp và PTNT xin chủ trương tu bổ, gia cố mặt đê đã bị hư hỏng, xuống cấp, đảm bảo an toàn đê điều, phục vụ công tác cứu hộ, hộ đê trong mùa mưa bão.

- Đoạn đê tả sông Mã, xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Lộc có chiều dài 3 km, đã được đầu tư tu bổ, gia cố mặt đê bằng bê tông, đảm bảo yêu cầu chống lũ và cải thiện điều kiện giao thông cho nhân dân. Tuy nhiên, khu vực phía sông đoạn từ km0 - km2 có một bãi lớn, diện tích khoảng 115 ha, đang có 700 hộ/2.800 người của 03 thôn Tiến Ích, Lê Sơn và Cẩm Hoàng, xã Vĩnh Quang sinh sống. Hàng năm, khi nước lũ trên sông Mã lên đến mức báo động cấp III, toàn bộ khu vực bãi sông ngập sâu trong nước, gây thiện hại lớn về tài sản, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân.

Để có giải pháp tổng thể phòng, chống lũ và đê điều trên hệ thống sông Mã, UBND tỉnh đã giao Chi cục Đê điều và PCLB Thanh Hóa làm chủ đầu tư, lập quy hoạch phòng, chống lũ và đê điều hệ thống sông Mã, trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, phê duyệt để triển khai thực hiện. Tuy nhiên, khu vực bãi sông của xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Lộc không nằm trong hành lang thoát lũ của sông Mã nên không phải tổ chức di rời dân cư và không được đầu tư xây dựng hệ thống đê bao bảo vệ. Sau khi có quy hoạch phòng chống lũ và đê điều hệ thống sông Mã được duyệt, UBND tỉnh sẽ báo cáo các Bộ, ngành Trung ương hỗ trợ nhân dân xây dựng nhà sàn tránh lũ và các công trình phúc lợi để bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản, ổn định sản xuất và đời sống nhân dân khu vực bãi sông của xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Lộc. Trước mắt, yêu cầu Sở Nông nghiệp và PTNT, UBND huyện Vĩnh Lộc chỉ đạo các cơ quan, đơn vị liên quan theo dõi chặt chẽ diễn biến mực nước sông Mã, kịp thời di dời nhân dân khu vực bãi sông xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Lộc đến nơi an toàn khi có lũ đến mức báo động nguy hiểm.

9. Cử tri huyện Quan Hóa đề nghị đẩy nhanh tiến độ công trình Thủy điện Hồi Xuân:

Dự án thủy điện Hồi Xuân do Tổng công ty cổ phần xây dựng Việt Nam(VNECO) làm chủ đầu theo hình thức Hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (BOO), được triển khai đầu tư xây dựng tháng 7 năm 2010, kế hoạch hoàn thành đầu tư, đưa vào khai thác, sử dụng vào năm 2015. Đến nay, giá trị khối lượng thực hiện mới đạt 13%; tiến độ thực hiện chậm khoảng 25 tháng so với kế hoạch; nguyên nhân chủ yếu là do chủ đầu tư gặp khó khăn trong việc thu xếp vốn thực hiện dự án.

Trước tình hình trên, chủ đầu tư đã nỗ lực tìm kiếm nguồn vốn vay thực hiện dự án và đã được Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trùng Khánh, Trung Quốc chấp nhận khoản vay 97,7 triệu USD. Hiện nay, chủ đầu tư đang hoàn thiện hồ sơ, thủ tục vay vốn để được cấp bảo lãnh Chính phủ và ký hiệp định vay vốn với Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trùng Khánh. Dự kiến khoản vay của dự án trên sẽ được giải ngân lần đầu tiên vào tháng 8 năm 2013.

Để tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án thủy điện Hồi Xuân, UBND tỉnh đã thường xuyên đi kiểm tra, đôn đốc chủ đầu tư và chỉ đạo các ngành liên quan, UBND huyện Quan Hóa tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ bồi thường giải phóng mặt bằng, di dân tái định cư, đáp ứng yêu cầu mặt bằng thi công ngay sau khi khoản vay nêu trên của dự án được giải ngân.

10. Cử tri các huyện Quảng Xương, Như Xuân, Như Thanh đề nghị hoàn trả vốn đầu tư lưới điện hạ áp nông thôn do nhân dân đóng góp xây dựng đã bàn giao cho ngành điện quản lý, khai thác.

Theo báo cáo của Sở Công Thương trên địa bàn các huyện Quảng Xương, Như Xuân và Như Thanh có 58 công trình (58 xã) lưới điện hạ áp nông thôn được đầu tư từ nguồn vốn do nhân dân đóng góp. Hiện nay, các địa phương đã và đang tiến hành bàn giao các công trình lưới điện hạ áp nông thôn cho các đơn vị kinh doanh quản lý, bán điện theo quy định.

Trên địa bàn huyện Quảng Xương đã có 06/25 công trình đã được hoàn trả vốn đầu tư,bàn giao cho Công ty cổ phần kinh doanh điện Thanh Hóa quản lý, khai thác; 12/25 công trình đang hoàn chỉnh hồ sơ, thủ tục để thẩm định, trình phê duyệt giá trị còn lại; 07/25 công trình đã hoàn thành hồ sơ, thủ tục bàn giao nhưng chưa được Công ty cổ phần kinh doanh điện Thanh Hóa hoàn trả vốn đầu tư theo quy định. Trên địa bàn huyện Như Xuân có 8/17 công trình đã hoàn thành hồ sơ, thủ tục bàn giao nhưng chưa được Công ty Điện lực Thanh Hóa hoàn trả vốn đầu tư; 9/17 công trình đang được thẩm định, trình phê duyệt giá trị còn lại để làm cơ sở bàn giao cho Công ty Điện lực Thanh Hóa. Trên địa bàn huyện Như Thanh đã có 01/16 công trình đã được hoàn trả vốn đầu tư,bàn giao cho Công ty điện lực Thanh Hóa quản lý, khai thác; 14/16 công trình đang được hoàn chỉnh hồ sơ, thủ tục bàn giao và 01 công trình do hợp tác xã dịch vụ điện quản lý.

Như vậy, tiến độ bàn giao, hoàn trả vốn đầu tư các công trình lưới điện hạ áp nông thôn do nhân dân đóng góp trên địa bàn các huyện Quảng Xương, Như Xuân, Như Thanh còn chậm, không đảm bảo theo quy định tại Thông tư Liên tịch số 06/2010/TTLT-BCT-BTC ngày 03/02/2010 của Bộ Công Thương, Bộ Tài chính về việc hướng dẫn giao nhận, hoàn trả vốn đầu tư lưới điện hạ áp nông thôn. Nguyên nhân chủ yếu là do một số công trình lưới điện hạ áp nông thôn không có đủ hồ sơ thủ tục đầu tư hoặc bị thất lạc trong quá trình quản lý nên không có cơ sở pháp lý để xác định giá trị còn lại; công tác chuẩn bị hồ sơ, thẩm định giá trị còn lại của một số công trình còn chậm, ảnh hưởng đến tiến độ bàn giao, hoàn trả vốn đầu tư lưới điện hạ áp nông thôn.

Để đẩy nhanh tiến độ giao, nhận và hoàn trả vốn đầu tư cho các công trình lưới điện hạ áp nông thôn do nhân dân đóng góp xây dựng, UBND tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo, ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, đôn đốc các ngành, đơn vị liên quan và các địa phương thực hiện; tập trung giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong việc xác định giá trị còn lại của công trình, sớm hoàn thành hồ sơ, thủ tục để thẩm định và phê duyệt giá trị còn lại, làm cơ sở cho việc bàn giao; chỉ đạo, đôn đốc các đơn vị kinh doanh điện hoàn trả vốn đầu tư và tập trung huy động nguồn vốn để đầu tư nâng cấp lưới điện hạ áp nông thôn sau khi tiếp nhận quản lý, đáp ứng nhu cầu điện năng phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.

11. Cử tri các huyện lang Chánh, Bá Thước đề nghị đầu tư xây dựng lưới điện nông thôn đến các thôn, bản chưa có điện lưới quốc gia, đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.

Hiện nay, trên địa bàn các huyện Lang Chánh và Bá Thước vẫn còn 57 thôn bản, với 3.754 hộ dân thuộc 19 xã chưa có điện lưới quốc gia. Cử tri các huyện Lang Chánh và Bá Thước đề nghị đầu tư xây dựng lưới điện nông thôn đến các thôn, bản chưa có điện lưới quốc gia là nguyện vọng chính đáng. Tuy nhiên, do ngân sách tỉnh còn khó khăn và nhu cầu đầu tư, nâng cấp hệ thống lưới điện nông thôn trên địa bàn tỉnh rất lớn nên đơn vị được giao quản lý, khai thác hệ thống lưới điện của 19 xã nêu trên chưa có điều kiện cân đối, bố trí vốn để đầu tư xây dựng lưới điện đến 59 thôn, bản của các huyện Lang Chánh, Bá Thước chưa có điện lưới quốc gia.

Để sớm đầu tư xây dựng hệ thống lưới điện quốc gia đến các thôn, bản chưa có điện trên địa bàn tỉnh nói chung và các thôn, bản của các huyện Lang Chánh, Bá Thước nói riêng, UBND tỉnh đã có Công văn số 617/UBND-CN ngày 24/01/2013 báo cáo Thủ tướng Chính phủ xin chủ trương và cơ chế hỗ trợ vốn đầu tư dự án cấp điện đến các thôn, bản chưa có điện lưới quốc gia. Ngày 06/02/2013, Thủ tướng Chính phủ đã có Công văn số 1142/VPCP-KTN đồng ý chủ trương đầu tư và hỗ trợ dự án cấp điện cho các thôn, bản chưa có điện trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa; Bộ Công Thương đã có công văn hướng dẫn thực hiện. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công Thương, UBND tỉnh đã giao Sở Công Thương hoàn chỉnh hồ sơ, thủ tục đầu tư và trình duyệt để triển khai thực hiện.

12. Cử tri huyện Bá Thước đề nghị đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cung cấp các dịch vụ viễn thông, phát sóng truyền hình phục vụ nhân dân một số thôn, bản trên địa bàn huyện Bá Thước.

Trong những năm qua, các doanh nghiệp viễn thông đã quan tâm đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở hạ tầng viễn thông trên địa bàn tỉnh, đáp ứng yêu cầu phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền các cấp và nhu cầu thông tin liên lạc của nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh của tỉnh. Tuy nhiên, do địa hình phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều sông suối và núi cao, mật độ dân số thấp, trên địa bàn huyện Bá Thước vẫn còn 10/225 thôn, bản cách xa trung tâm xã, chưa có điện lưới quốc gia nên chưa được đầu tư xây dựng các trạm cung cấp dịch vụ viễn thông và không thu được sóng truyền hình, bao gồm các thôn Son, Bá, Mười, Kịt, Pốn, Cao Hong, Thành Công, xã Lũng Cao; thôn Eo Kén, Pảo Ban, xã Thành Sơn; thôn Thượng Sơn, xã Điền Thượng.

Để đảm bảo cho người dân thuộc các thôn, bản nêu trên của huyện Bá Thước được tiếp cận các dịch vụ viễn thông, thu được sóng truyền hình, Sở Thông tin và Truyền thông đang chỉ đạo các doanh nghiệp viễn thông tập trung khai thác có hiệu quả các phương tiện, mạng lưới hiện có nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ viễn thông; tăng cường phối hợp dùng chung cơ sở hạ tầng giữa các doanh nghiệp viễn thông, đáp ứng nhu cầu thông tin, liên lạc của nhân dân. Theo báo cáo của Sở Thông tin và Truyền thông, Tập đoàn Viễn thông Quân Đội Viettel đã hoàn thành đầu tư và sẽ đưa vào khai thác trạm thu phát sóng di động ở các thôn Son, Bá, Mười, xã Lũng Cao ngay sau khi có hành lang xây dựng đường truyền dẫn và nguồn điện lưới quốc gia; đang xem xét, phê duyệt kế hoạch đầu tư các trạm thu phát sóng ở các thôn Eo Kén, Pảo Ban, xã Thành Sơn; các thôn, bản còn lại sẽ được đầu tư xây dựng các trạm thu phát sóng di động theo kế hoạch. UBND tỉnh đang chỉ đạo các ngành liên quan, các địa phương và Công ty Điện lực Thanh Hóa tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, lưới quốc gia đến các thôn, bản cách xa trung tâm xã trên địa bàn huyện Bá Thước để có điều kiện đầu tư xây dựng đường truyền dẫn và trạm thu phát sóng di động, đáp ứng nhu cầu thông tin, liên lạc của nhân dân.

13. Cử tri đề nghị đầu tư đường từ xã Thiệu Phú, huyện Thiệu Hóa đến cầu Thành Giang, xã Định Thành, huyện Yên Định; đầu tư kéo dài dự án cầu Yên Hoành, đoạn từ Quốc lộ 45 đến Quốc lộ 47; đầu tư đường từ xã Phú Nhuận, huyện Như Thanh đi huyện Nông Cống; đầu tư sửa chữa đường từ Đình Hương đến xã Thiệu Dương, thành phố Thanh Hóa và đường Lang Chánh – Yên Khương.

Đầu tư xây dựng, sửa chữa, nâng cấp các tuyến đường giao thông nêu trên mà cử tri đề nghị là cần thiết nhằm cải thiện điều kiện giao thông, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh của các địa phương có các tuyến đường đi qua.

Đối với việc đầu tư tuyến đường từ xã Thiệu Phú, huyện Thiệu Hóa đi cầu Thành Giang, xã Định Thành, huyện Yên Định; kéo dài dự án cầu Yên Hoành, đoạn từ Quốc lộ 45 đến Quốc lộ 47: Thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và do không có khả năng cân đối, bố trí vốn thực hiện dự án, UBND tỉnh đã phải chỉ đạo tạm dừng thực hiện các dự án này.

Đối với việc đầu tư tuyến đường từ xã Phú Nhuận, huyện Như Thanh đi huyện Nông Cống: Chủ tịch UBND tỉnh đã phê duyệt chủ trương đầu tư và đổi tên dự án thành đường ô tô đến trung tâm xã Phú Nhuận, huyện Như Thanh tại Quyết định số 1633/QĐ-UBND ngày 20/5/2013, tạo điều kiện cho chủ đầu tư phối hợp với và các ngành, đơn vị liên quan đấu mối với các Bộ, ngành Trung ương để được hỗ trợ vốn đầu tư theo chương trình đường đến trung tâm các xã chưa có đường ô tô.

Đối với việc đầu tư sửa chữa tuyến đường từ Đình Hương đến xã Thiệu Dương, thành phố Thanh Hóa;đường Lang Chánh – Yên Khương, đoạn từ Quốc lộ 15A đến xã Yên Thắng: Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Giao thông Vận tải thực hiện duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa các vị trí bị hư hỏng trên các tuyến đường bằng nguồn kinh phí sự nghiệp giao thông của tỉnh; tổ chức cắm biển hạn chế tải trọng theo quy mô cấp đường thiết kế; phối hợp với UBND huyện Lang Chánh và lực lượng công an, tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm xe chở quá tải chạy trên tyến đường; đồng thời phối hợp với các ngành, địa phương liên quan đấu mối với các Bộ, ngành Trung ương để được đầu tư hoàn thành tuyến đường Lang Chánh – Yên Khương, đoạn từ xã Yên Thắng đi cửa khẩu Méng.

14. Cử tri phản ánh trong quá trình thi công tuyến đường vành đai Na Tao đi bản Chai, huyện Mường Lát đã lấp đập mương, làm 74,9 ha đất sản xuất của 08 bản có tuyến đường đi qua phải bỏ hoang; tuyến đường từ Nà Ón đi Tà Cóm, xã Trung Lý, huyện Mường Lát mới hoàn thành thi công đã bị sạt lở nghiêm trọng, gây khó khăn cho việc đi lại của nhân dân.

Tiếp thu ý kiến cử tri phản ánh, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Giao thông Vận tải chủ trì, phối hợp với Ban Dân tộc, UBND huyện Mường Lát và các nhà thầu đi kiểm tra thi công tuyến đường vành đai Na Tao đi bản Chai và tuyến đường từ Nà Ón đi Tà Cóm, xã Trung Lý, huyện Mường Lát.

- Theo báo cáo của Sở Giao thông Vận tải (chủ đầu tư), dự án đường giao thông từ bản Na Tao, xã Pù Nhi đi bản Chai, xã Mường Chanh, huyện Mường Lát có một số đoạn mở mới đi qua các sườn núi, sườn đồi, độ dốc cao, điều kiện thi công khó khăn, khối lượng đào đất đá lớn nên vào mùa mưa đã xảy ra sạt lở đất đá đào nền đường, làm lấp đập tràn và mương thủy lợi, ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.

Trước tình hình trên, Sở Giao thông Vận tải đã chỉ đạo nhà thầu phối hợp với UBND các xã Quang Chiểu, Mường Chanh xác định thiệt hại và mức kinh phí hỗ trợ cho các hộ dân bị ảnh hưởng, đảm bảo ổn định đời sống nhân dân; đồng thời phối hợp với UBND huyện Mường Lát xác định các vị trí đổ đất đào nền đường và gia cố các bãi đổ để không làm ảnh hưởng đến các công trình thủy lợi phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Đến nay, công việc khắc phục ảnh hưởng do sạt lở đất trong quá trình thi công của dự án đã hoàn thành. Trong thời gian tới, Sở Giao thông Vận tải sẽ chỉ đạo nhầu có giải pháp thi công phù hợp hợp, vừa đảm bảo tiến độ của dự án, vừa đảm bảo an toàn cho các công trình thủy lợi trên địa bàn các xã Mường Chanh, Quang Chiểu, huyện Mường Lát.

- Tuyến đường từ Nà Ón đi Tà Cóm, xã Trung Lý, huyện Mường Lát do Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh làm chủ đầu tư, được thi công mở mới hoàn toàn. Do tuyến đường có nhiều đoạn cong, độ dốc lớn, không có rãnh thoát nước, nên thường xảy ra sạt lở khi có mưa lớn. Hiện nay, Bộ chỉ huy BĐBP tỉnh Thanh Hóa đang chỉ đạo sửa chữa, khắc phục các đoạn sạt lở trên tuyến, đảm bảo giao thông cho nhân dân.

15. Cử tri về đề nghị đẩy nhanh tiến độ thi công tuyến đường từ Yên Nhân đi cửa khẩu Khẹo; tuyến đường Tây Thanh Hóa, đoạn từ Km161-Km190; tuyến đường Quốc lộ 45 kéo dài trên địa bàn các huyện Như Xuân, Như Thanh.

- Đường Yên Nhân đi cửa khẩu Khẹo thuộc dự án Tuyến nối các huyện ở Tây Thanh Hóa có tổng mức đầu tư 189 tỷ đồng; được khởi công xây dựng tháng 10/2010, kế hoạch hoàn thành đầu tư trong tháng 10/2013; đến nay, giá trị khối lượng thực hiện đạt 71 tỷ đồng, tương đương 37,5% giá trị khối lượng phải thực hiện.

- Đoạn tuyến từ Km161-Km190 thuộc dự án Tuyến nối các huyện ở Tây Thanh Hóa, có tổng giá trị trúng thầu là 200 tỷ đồng; được khởi công xây dựng từ tháng 11/2008, kế hoạch hoàn thành đầu tư chậm nhất vào tháng 12/2011; tổng số vốn đã bố trí cho các gói thầu là 101 tỷ đồng; đến nay, giá trị khối lượng thực hiện đạt 147 tỷ đồng, tương đương 73,5% tổng giá trị khối lượng phải thực hiện.

- Đường Quốc lộ 45 kéo dài trên địa bàn huyện Như Xuân, Như Thanh thuộc dự án Tuyến nối các huyện ở Tây Thanh Hóa, có tổng mức đầu tư 546 tỷ đồng, kế hoạch hoàn thành đầu tư trong năm 2014; tổng số vốn đã bố trí cho dự án là 214 tỷ đồng; đến nay giá trị khối lượng thực hiện đạt 207 tỷ đồng, tương đương 40% tổng mức đầu tư.

Như vậy, tiến độ thi công của các tuyến đường nêu trên chậm so với kế hoạch mà nguyên nhân chủ yếu là do việc bố trí vốn cho dự án không kịp thời và tiến độ giải phóng mặt bằng chưa đáp ứng được yêu cầu của dự án. Trước tình hình đó, UBND tỉnh đã có nhiều văn bản đề nghị Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương bố trí vốn đẩy nhanh tiến độ dự án, sớm hoàn thành đầu tư đưa vào khai thác, sử dụng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh trên địa bàn; đồng thời chỉ đạo Sở Giao thông Vận tải phối hợp với các ngành liên quan tích cực đấu mối với các Bộ, ngành Trung ương để được bổ sung vốn đẩy nhanh tiến độ dự án; chỉ đạo UBND các địa phương tập trung giải quyết khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ bồi thường, giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ đầu tư và các nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công công trình.

16. Cử tri đề nghị tăng cường kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm xe ô tô quá khổ, quá tải lưu hành trên tuyến Quốc lộ 45.

Trong thời gian qua, tình trạng xe ô tô tham gia giao thông chở hàng quá tải trọng và chở quá số khách cho phép trên địa bàn cả nước nói chung và tỉnh ta nói riêng diễn biến phức tạp, nguy cơ tiềm ẩn mất an toàn giao thông, làm gia tăng tai nạn giao thông và hư hỏng các công trình giao thông đường bộ, gây bức xúc cho trong nhân dân.

Để chấn chỉnh tình trạng nêu trên và thực hiện tốt Công điện số 95/CĐ-TTg ngày 10/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ, Công văn số 2253/BGTVT-ATGT ngày 30/3/2013 của Bộ Giao thông Vận tải, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các ngành, địa phương, đơn vị, tăng cường tuần tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp xe ô tô chở quá tải trọng cho phép, chở khách quá số người quy định khi tham gia giao thông trên địa bàn tỉnh; đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật giao thông trong nhân dân; quản lý chặt chẽ hoạt động vận tải hành khách, hàng hóa trên địa bàn; thường xuyên nhắc nhở, chấn chỉnh các doanh nghiệp, cá nhân đăng doanh hoạt động vận tải chấp hành các quy định của pháp luật về an toàn giao thông đường bộ; đến nay, tình trạng xe ô tô chở hàng quá khổ, quá tải, chở khách quá số người quy định trên địa bàn tỉnh từng bước đã được khắc phục.

17. Cử tri đề nghị kiểm tra, xác định mức độ ô nhiễm do chất thải của một số nhà máy trên thượng nguồn sông Yên:

Sông Yên bắt nguồn từ xã Bình Lương, huyện Như Xuân chảy qua địa bàn các huyện Như Thanh, Nông Cống, Quảng Xương và đổ ra biển Đông qua cửa Lạch Ghép. Sông Yên có 4 chi lưu chính là sông Nhơm, sông Hoàng, sông Lý và sông Thị Long; là nơi tiếp nhận nước thải sinh hoạt của các khu vực dân cư sinh sống hai bên bờ sông và nước thải sản xuất của Nhà máy đường Nông Cống, Nhà máy giấy Lam Sơn, cụm công nghiệp Dân Lực, làng nghề Đồng Thắng, huyện Triệu Sơn và các cơ sở khai thác khoáng sản. Kết quả quan trắc, phân tích cho thấy chất lượng nước trên hệ thống sông Yên đã bị ô nhiễm, một số chỉ tiêu như PH, DO, BOD5, COD, PO43-, NO2-, Cl, TSS, dầu mỡ,...vượt quá quy chuẩn cho phép, ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Nguyên nhân chủ yếu là do nước thải sinh hoạt của các khu dân cư, nước thải sản xuất của các cơ sở công nghiệp nêu trên thải ra sông Nhơm, sông Hoàng, sông Lý và sông Thị Long chưa được thu gom, xử lý triệt để.

Trước tình hình trên, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các ngành, địa phương liên quan tổ chức thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất dọc hệ thống sông Yên; yêu cầu các cơ sở sản xuất đầu tư xây dựng hoàn chỉnh và thường xuyên vận hành hệ thống thu gom, xử lý nước thải sản xuất, đảm bảo nước thải, chất thải rắn, khí thải sản xuất thải ra môi trường đạt quy chuẩn cho phép; lập dự án đầu tư cải tạo phục hồi môi trường; gia cố bờ đê bãi thải, xây dựng kho chứa chất thải nguy hại; đồng thời chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật bảo vệ môi trường nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ môi trường; quan tâm đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải, chất thải sản xuất của các cụm công nghiệp, làng nghề; tăng cường thanh tra, kiểm tra, phát hiện, xử lý hoặc đề xuất cơ quan có thẩm quyền xử lý nghiêm các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường.

18. Cử tri đề nghị thu hồi đất của các dự án chậm triển khai thực hiện trên địa bàn huyện Quảng Xương và thị xã Sầm Sơn.

Tiếp thu ý kiến kiến nghị của cử tri, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường rà soát, kiểm tra việc sử dụng đất của các dự án trên địa bàn huyện Quảng Xương và thị xã Sầm Sơn. Kết quả kiểm tra cho thấy trên địa bàn huyện Quảng Xương và thị xã Sầm Sơn có 10 dự án đã được nhà nước giao đất, cho thuê đất để đầu tư kinh doanh khách sạn, dịch vụ du lịch, thương mại, sửa chữa ô tô, gia công cơ khí, sản xuất cấu kiện bê tông,…nhưng chưa đưa đất vào sử dụng hoặc vi phạm pháp luật đất đai.

Để tránh lãng phí tài nguyên đất đai, khắc phục tình trạng sử dụng đất kém hiệu quả, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vượt qua thời kỳ khó khăn do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các ngành, địa phương liên quan, xác định rõ nguyên nhân chậm trễ đưa đất vào sử dụng của từng dự án cụ thể, trên cơ sở đó đề xuất UBND tỉnh xem xét, thu hồi đất của các dự án không có khả năng triển khai thực hiện, sử dụng đất không đúng mục đích hoặc vi phạm pháp luật đất đai.

19. Cử tri thành phố Thanh Hóa đề nghị tăng cường công tác quản lý hoạt động khai thác, tập kết kinh doanh cát trên sông Mã, đoạn qua thành phố Thanh Hóa để bảo vệ an toàn đê điều.

Hiện nay, trên địa bàn thành phố Thanh Hóa có 02 mỏ cát, 15 bãi tập kết kinh doanh cát đã được cấp phép hoạt động và 01 bãi đã được chấp thuận chủ trương lập hồ sơ thuê đất. Tuy nhiên, hoạt động tập kết kinh doanh cát trái phép trên địa bàn thành phố Thanh Hóa vẫn diễn ra khá phổ biến, tập trung chủ yếu ở khu vực phường Tào Xuyên và xã Hoằng Lý.

Trước tình hình trên, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với UBND thành phố Thanh Hóa tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm hoạt động khai thác, tập kết kinh doanh cát trái phép; yêu cầu UBND phường Tào Xuyên, UBND xã Hoằng Lý giải tỏa ngay các bãi tập kết kinh doanh cát trái phép trên địa bàn; tăng cường kiểm tra, phát hiện, xử lý nghiêm các đối tượng khai thác, tập kết kinh doanh cát trái phép theo thẩm quyền; đồng thời kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan. Đến nay, hoạt động khai thác, tập kết kinh doanh cát trái phép trên địa bàn thành phố Thanh Hóa đã được khắc phục.

20. Cử tri thị xã Sầm Sơn đề nghị cần có giải pháp ứng phó với hiện tượng nước biển xâm thực khu du lịch sinh thái Quảng Cư, thị xã Sầm Sơn.

Thực hiện Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch hành động, đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể để triển khai thực hiện; đồng thời có văn bản đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường, báo cáo Thủ tướng Chính phủ bố trí vốn hỗ trợ cho các dự án: Trồng rừng ngập mặn ven biển các xã Nga Tân, Nga Thủy, huyện Nga Sơn; xã Hải Lộc, Đa Lộc, huyện Hậu Lộc; xã Hoằng Châu, huyện Hoằng Hóa; xã Quảng Cư, thị xã Sầm Sơn; hệ thống thủy lợi sông Lèn và dự án đầu tư xây dựng đê biển tại xã Quảng Cư, thị xã Sầm Sơn.

Trong 3 dự án nêu trên, dự án đầu tư xây dựng đê biển tại xã Quảng Cư, thị xã Sầm Sơn nhằm chống sạt lở, ngăn chặn biển xâm thực đất liền đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục dự án ưu tiên hỗ trợ đầu tư theo Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu. Hiện nay, UBND tỉnh đang chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư tích cực đấu mối với các Bộ, ngành Trung ương để sớm được bố trí vốn triển khai thực hiện dự án.

21. Cử tri thành phố Thanh Hóa đề nghị tăng tăng cường các biện pháp quản lý di tích Núi Nhồi, phường An Hoạch, thành phố Thanh Hóa.

Di tích Núi Nhồi thuộc địa phận phường An Hoạch, thành phố Thanh Hóa đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp Quốc gia tại Quyết định số 983/VH-QĐ ngày 08/4/1992. Di tích bao gồm Núi An Hoạch (Núi Nhồi), chùa Tiên Sơn (chùa Quan Thánh), chùa Hinh Sơn (chùa Thánh Mẫu), Đình Thượng và lăng Quận Mãn. Hiện nay, khu vực bảo vệ và khu vực liền kề di tích Núi Nhồi đã bị xâm hại nghiêm trọng, nhân dân đã xây nhà ở, dựng xưởng chế tác đá bên cạnh chùa Tiên Sơn, chùa Hinh Sơn và ngay dưới chân Núi Nhồi; do hoạt động khai thác đá diễn ra trong nhiều năm nên trên thân Núi Nhồi có những vết sẹo lớn và dưới chân núi đã hình thành những hố sâu, bãi tập kết vật liệu, làm phá vỡ cảnh quan, gây ô nhiễm môi trường.

Để quản lý, bảo vệ và có cơ sở trùng tu, tôn tạo di tích Núi Nhồi, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 893/VX-UBND ngày 25/6/1992 về việc phê duyệt quy hoạch, quản lý, bảo vệ cụm di tích lịch sử Núi Nhồi; dừng cấp phép khai thác đá, xây dựng kế hoạch di dời các xưởng đá ra khỏi khu vực bảo vệ và khu vực liền kề di tích, từng bước trả lại cảnh quan môi trường, các giá trị lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật vốn có của di tích; chỉ đạo thành lập Ban Quản lý di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh Núi Nhồi để bảo vệ di tích. Giao UBND thành phố Thanh Hóa phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch khảo sát hiện trạng, nghiên cứu đề xuất lập dự án quy hoạch tổng thể di tích Núi Nhồi, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh.

22. Cử tri đề nghị bố trí kinh phí chi trả cho giáo viên dạy 02 buổi/ngày tại các trường tiểu học đã tổ chức học 02buổi/ngày nhưng chưa được bố trí đủ giáo viên theo quy định.

Theo quy định, các trường tiểu học chỉ được tổ chức dạy học 2 buổi/ ngày khi đảm bảo các điều kiện như: học sinh có nhu cầu, có sự tự nguyện của cha mẹ học sinh và được cấp quản lý có thẩm quyền cho phép; đảm bảo yêu cầu mỗi lớp học 02 buổi/ngày phải có ít nhất 01 phòng học riêng; có đủ các phòng chức năng và trang thiết bị theo quy định trường đạt chuẩn quốc gia; đảm bảo điều kiện về vệ sinh, môi trường; được bố trí đủ số lượng giáo viên 1,5 giáo viên/lớp, đảm bảo cơ cấu theo yêu cầu của chương trình dạy học 02 buổi/ngày.

Như vậy, đối với các trường tiểu học chưa đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, vệ sinh, môi trường và các điều kiện khác thì không được tổ chức dạy học 02 buổi/ngày mà chỉ được tổ chức dạy tăng tiết, tăng buổi nhưng không quá 02 buổi/tuần, với các nội dung “bồi dưỡng về nghệ thuật, thể dục thể thao, rèn luyện kỹ năng sống”; chế độ đối với giáo viên dạy tăng tiết, tăng buổi được ngân sách nhà nước đảm bảo theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tài chính tại Thông tư Liên tịch số 07/2013/TTLT-BGDĐT-BTC ngày 08/3/2013.

23. Về đề nghị nâng mức phụ cấp cho những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và thôn, bản, phố.

Hiện nay, toàn tỉnh có 10.809 người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và 17.553 người hoạt động không chuyên trách ở thôn, bản, phố. Chế độ phụ cấp cho những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở thôn, bản, phố đang được thực hiện theo Quyết định số 619/2010/UBND ngày 11/02/2010 của UBND tỉnh. Theo đó, có 17 chức danh hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và 03 chức danh hoạt động không chuyên trách ở thôn, bản, phố được hưởng mức phụ cấp từ 0,6 đến 1,0 so với mức lương tối thiểu chung nhà nước quy định, hoàn toàn phù hợp với quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ.

Như vậy, mức phụ cấp cao nhất đối với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và thôn, bản, phố hiện nay ở tỉnh ta là 1.050.000 đồng, tăng 350% so với mức phụ cấp cao nhất quy định tại Quyết định số 367/2007/QĐ-UBND ngày 30/01/2007 của UBND tỉnh, hoàn toàn phù hợp với mặt bằng chung của cả nước và tình hình thực tế ở cơ sở. Mặt khác, hiện nay ngân sách tỉnh còn khó khăn, thu ngân sách trên địa bàn mới đáp ứng được 30% nhu cầu chi ngân sách địa phương; vì vậy, nếu tăng thêm bình quân hệ số phụ cấp 0,1 cho mỗi chức danh hoạt động không chuyên trách thì ngân sách tỉnh phải chi tăng lên gần 36 tỷ đồng/năm, rất khó khăn trong việc cân đối thu – chi ngân sách tỉnh hàng năm. Khi ngân sách tỉnh có điều kiện, UBND tỉnh sẽ báo cáo HĐND tỉnh xem xét, quyết định nâng mức phụ cấp cho những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và thôn, bản, phố trên địa bàn tỉnh.

24. Cử tri đề nghị điều chỉnh địa giới hành chính giữa xã Lương Nội, huyện Bá Thước và xã Cẩm Quý, huyện Cẩm Thủy; xã Văn Nho, huyện Bá Thước và xã Tam Văn, huyện Lang Chánh; xã Yên Khương, huyện Lang Chánh và xã Sơn Hà, huyện Quan Sơn trên bản đồ địa giới hành chính 364-CT cho đúng với hiện trạng.

Trong những năm qua, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành, địa phương tập trung giải quyết dứt điểm các vụ tranh chấp địa giới hành chính theo nguyên tắc tranh chấp địa giới giữa các xã, phường, thị trấn trong cùng một huyện, thị xã, thành phố do UBND huyện, thị xã, thành phố có tranh chấp địa giới hành chính giải quyết; tranh chấp địa giới hành chính giữa các các xã, phường, thị trấn thuộc 2 huyện, thị xã, thành phố khác nhau thì Sở Nội vụ có trách nhiệm giải quyết, báo cáo UBND tỉnh những trường hợp đề xuất điều chỉnh địa giới hành chính để báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết. Tuy nhiên hiện nay, trên địa bàn tỉnh vẫn còn 28 điểm tranh chấp địa giới hành chính (giữa các huyện có 16 điểm; giữa các xã có 12 điểm) chưa được giải quyết dứt điểm, trong đó có các điểm tranh chấp địa giới hành chính giữa xã Lương Nội, huyện Bá Thước và xã Cẩm Quý, huyện Cẩm Thủy; xã Văn Nho, huyện Bá Thước và xã Tam Văn, huyện Lang Chánh; xã Yên Khương, huyện Lang Chánh và xã Sơn Hà, huyện Quan Sơn.

Để giải quyết tranh chấp địa giới hành chính giữa các địa phương và khắc phục những sai sót trong quá trình lập hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính 364-CT, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 513/QĐ-TTg ngày 02/5/2012 phê duyệt Dự án hoàn thiện, hiện đại hóa hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính và xây dựng cơ sở dữ liệu về địa giới hành chính. Thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh đã thành lập Ban Chỉ đạo tỉnh, xây dựng kế hoạch, quy chế hoạt động, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên Ban Chỉ đạo triển khai thực hiện; Sở Nội vụ đã hướng dẫn các huyện, thị xã, thành phố kiểm tra, rà soát, thống kê hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính và mốc địa giới hành chính các cấp; giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính cấp huyện, cấp xã.

Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện dự án hoàn thiện, hiện đại hóa hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính và xây dựng cơ sở dữ liệu về địa giới hành chính ở địa phương đang gặp khó khăn do chưa có văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành Trung ương về việc lập dự toán dự án. Sau khi có văn bản hướng dẫn của các bộ, ngành Trung ương về việc lập dự toán dự án nêu trên, UBND tỉnh sẽ chỉ đạo các ngành liên quan và các địa phương khẩn trương triển khai thực hiện, đảm bảo tiến độ đã được phê duyệt trong dự án.

25. Cử tri đề nghị cần có chế độ phụ cấp cho cán bộ lãnh đạo chuyên trách các hội đặc thù.

Hiện nay, toàn tỉnh có 14 hội đã được Chủ tịch UBND tỉnh quyết định công nhận hội có tính chất đặc thù, là: Hội Khuyến học, Hội Cựu thanh niên xung phong, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin, Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ em mồ côi, Hội Chữ thập đỏ, Hội Làm vườn và Trang trại, Hội Người cao tuổi, Hội Đông y, Hội Luật gia, Liên Hiệp các hội khoa học và kỹ thuật, Hội Văn học và Nghệ thuật, Liên minh các hợp tác xã, Hội Nhà báo, Hội Người mù. Số lượng, chế độ thù lao đối với những người đã nghỉ hưu giữ chức danh lãnh đạo chuyên trách ở các cấp hội có tính chất đặc thù được quy định tại Quyết định số 2553/2012/QĐ-UBND ngày 13/8/2012 của UBND tỉnh. Riêng chế độ trợ cấp đối với cán bộ của Hội Người mù cấp tỉnh, cấp huyện được quy định tại Quyết định số 2003/QĐ-UBND ngày 23/6/2011 của Chủ tịch UBND tỉnh.

Nhìn chung, việc thực hiện chế độ thù lao đối với người đã nghỉ hưu giữ chức danh lãnh đạo chuyên trách ở các hội có tính chất đặc thù trên địa bàn tỉnh được thực hiện kịp thời, phù hợp với điều kiện của địa phương, đã góp phần động viên cán bộ hội yên tâm công tác. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một số lãnh đạo hội chuyên trách cấp huyện, cấp xã, không phải đối tượng nghỉ hưu, không được hưởng chế độ thù lao theo quy định. Để bảo đảm chế độ thù lao cho các chức danh lãnh đạo chuyên trách các hội có tính chất đặc thù, Sở Nội vụ đã có văn bản báo cáo, xin ý kiến Bộ Nội vụ và Bộ đã có Công văn số 2972/BNV-TL ngày 20/8/2012 trả lời “Đối tượng lãnh đạo hội chuyên trách không phải là người nghỉ hưu thì thực hiện theo thỏa thuận giữa các hội với người làm công tác hội, bảo đảm tương quan trong nội bộ hội và theo quy định của Bộ Luật lao động và quy định của pháp luật hiện hành”. Trên cơ sở ý kiến của Bộ Nội vụ, UBND tỉnh đang chỉ đạo Sở Nội vụ phối hợp với các ngành liên quan, tham mưu đề xuất hướng giải quyết, báo cáo UBND tỉnh.

26. Cử tri đề nghị chi trả tiền thưởng cho các đối tượng đã được Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen về thành tích tham gia kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước.

Thực hiện Quyết định số 98/2006/QĐ-TTg ngày 05/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc tặng Bằng khen của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho các đối tượng có thành tích tham gia kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành 146 quyết định khen thưởng cho 107.105 đối tượng nhưng chưa có kinh phí chi trả tiền thưởng theo quy định tại Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ.

Ngày 19/01/2012, Bộ Tài chính có Công văn số 996/BTC-NSNN đề nghị các bộ, ngành Trung ương và các địa phương tổng hợp kinh phí thực hiện chế độ khen thưởng cho các đối tượng có thành tích tham gia kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, UBND tỉnh đã có Công văn số 5238/UBND-KTTC ngày 26/7/2012 báo cáo Bộ Tài chính đề nghị Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ kinh phí cho tỉnh thực hiện chế độ khen thưởng, với tổng số tiền 112.460.250.000 đồng. Tuy nhiên, đến nay Trung ương vẫn chưa bố trí được nguồn kinh phí để hỗ trợ cho các địa phương. UBND tỉnh sẽ thực hiện chế độ khen thưởng thành tích kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cho các đối tượng đã nhận Bằng khen ngay sau khi được Trung ương hỗ trợ kinh phí.

27. Cử tri huyện Hoằng Hóa đề nghị tăng cường hoạt động của cảnh sát môi trường; tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của các văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnh.

.- Trong những năm qua, tình hình vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường ở tỉnh ta diễn biến biến phức tạp, chủ yếu ở các lĩnh vực khai thác, kinh doanh khoáng sản, vật liệu xây dựng,…và trong quá trình xây dựng, vận hành các công trình xử lý ô nhiễm môi trường, xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại,…

Trước tình hình trên, Công an tỉnh đã xây dựng kế hoạch, chỉ đạo lực lượng cảnh sát môi trường phối hợp với các ngành chức năng và các địa phương tăng cường các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, trọng tâm là đấu tranh ngăn chặn các hoạt động khai thác, vận chuyển trái phép khoáng sản, xả chất thải chưa qua xử lý ra môi trường. Trong 4 tháng đầu năm 2013, qua đấu tranh đã phát hiện 26 vụ vi pháp luật về bảo vệ môi trường, hoàn chỉnh hồ sơ ra quyết định xử lý vi phạm hành chính 18 vụ, phạt tiền trên 280 triệu đồng.

- Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 28 tổ chức hành nghề công chứng, phân bổ trên địa bàn 17 huyện, thị xã, thành phố. Hoạt động của các văn phòng công chứng đã cơ bản đáp ứng nhu cầu giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại của tổ chức, công dân trên địa bàn; phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật; bảo đảm cho sự phát triển lành mạnh của thị trường bất động sản trong tỉnh; đồng thời góp phần giải quyết việc làm, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Trong quá trình hoạt động, nhìn chung các tổ chức hành nghề công chứng đã chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về công chứng, chế độ thông tin, báo cáo và nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước. Tuy nhiên, hoạt động hành nghề công chứng của một số tổ chức công chứng có lúc, có việc chưa tuân thủ đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định, có biểu hiện chạy đua theo lợi nhuận; chưa quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho công chứng viên.

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, đưa hoạt động công chứng đi vào nề nếp, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Tư pháp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công chứng đến các tầng lớp nhân dân; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho các công chứng viên đang hành nghề; tăng cường thanh tra, kiểm tra, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý sai phạm của các tổ chức hành nghề công chứng; đồng thời yêu cầu các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện niêm yết công khai thủ tục và mức phí công chứng theo quy định; mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên; thực hiện nghiêm chế độ thông tin, báo cáo thống kê theo quy định của pháp luật.

Trên đây là kết quả thực hiện ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi đến Kỳ họp thứ 5 HĐND tỉnh Khoá XVI./.


Đánh giá:

lượt đánh giá: , trung bình:



 Liên kết website
 Bình chọn
Đánh giá của bạn về Cổng thông tin điện tử Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa
55 người đã bình chọn
Thống kê: 288.976
Online: 13