Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy, Báo Thanh Hóa trân trọng đăng toàn văn Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa khóa XVIII tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020-2025 để cán bộ, đảng viên và nhân dân quan tâm theo dõi, nắm bắt và tham gia đóng góp ý kiến vào Dự thảo văn kiện quan trọng này.

TIẾP TỤC NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG BỘ; PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA, LỊCH SỬ, KHÁT VỌNG THỊNH VƯỢNG VÀ SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN; ĐẨY MẠNH THU HÚT ĐẦU TƯ, PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHANH VÀ BỀN VỮNG; NÂNG CAO ĐỜI SỐNG CỦA NHÂN DÂN; BẢO ĐẢM VỮNG CHẮC QUỐC PHÒNG - AN NINH; PHẤN ĐẤU ĐẾN NĂM 2025 TRONG NHÓM CÁC TỈNH DẪN ĐẦU CẢ NƯỚC, ĐẾN NĂM 2030 TRỞ THÀNH TỈNH CÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XVIII (2015 - 2020)

Đảng bộ, chính quyền, quân và dân các dân tộc Thanh Hóa thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII trong điều kiện chính trị - xã hội ổn định, tiềm lực kinh tế ngày càng lớn mạnh, đoàn kết trong Đảng, đồng thuận trong nhân dân được tăng cường, cùng với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ của Trung ương đã tạo điều kiện cho tỉnh phát triển. Song cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức do tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, đầu tư, thương mại; trên địa bàn tỉnh, thiên tai, dịch bệnh thường xuyên xảy ra với mức độ nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn đến sản xuất, kết cấu hạ tầng và đời sống của nhân dân; cùng với những tồn tại, hạn chế trong nội tại của nền kinh tế đã tác động bất lợi đến việc thực hiện Nghị quyết Đại hội.

Trước tình hình đó, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân các dân tộc tỉnh ta đã phát huy truyền thống cách mạng, đoàn kết, sáng tạo, tranh thủ thời cơ, thuận lợi, chủ động khắc phục khó khăn, thách thức, nỗ lực phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII đạt kết quả toàn diện; dự kiến có 26/28 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch (10 chỉ tiêu vượt kế hoạch, 16 chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch). Cụ thể như sau:

A. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

I .VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG - AN NINH

1. Kinh tế tăng trưởng vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội XVIII, năng lực sản xuất và quy mô nền kinh tế tăng cao

Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân giai đoạn 2016 - 2020 dự kiến đạt 12,5%, vượt mục tiêu Đại hội (12%), gấp 1,54 lần so với mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015. Quy mô GRDP của tỉnh năm 2020 dự kiến đạt 133.816 tỷ đồng, gấp 1,8 lần năm 2015, đứng thứ 8 cả nước (1), cao nhất trong các tỉnh khu vực Bắc Trung bộ; GRDP bình quân đầu người dự kiến đạt 2.670 USD, gấp 1,9 lần năm 2015.

1.1. Sản xuất nông, lâm, thủy sản phát triển toàn diện; tích tụ, tập trung đất đai đạt kết quả bước đầu (2); sản xuất hàng hóa quy mô lớn, công nghệ cao, theo chuỗi được hình thành và phát triển (3); thu hút đầu tư vào nông nghiệp đạt kết quả tích cực, đã có các dự án quy mô lớn được triển khai thực hiện (4); tốc độ tăng giá trị sản xuất toàn ngành bình quân hàng năm dự kiến đạt 3%, vượt kế hoạch; giá trị sản xuất năm 2020 dự kiến đạt 29.176 tỷ đồng, gấp 1,16 lần năm 2015. Trong trồng trọt, việc cơ giới hóa, ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, đưa công nghệ mới vào sản xuất được đẩy mạnh; năng suất hầu hết các cây trồng chính đều tăng; chuyển đổi được 45.101ha đất trồng lúa, mía, lạc, sắn năng suất thấp, kém hiệu quả sang trồng các loại cây có hiệu quả kinh tế cao hơn; các vùng cây nguyên liệu được duy trì, phát triển, bảo đảm cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến. Chăn nuôi chuyển biến rõ nét về tổ chức sản xuất, chuyển mạnh sang chăn nuôi tập trung, ứng dụng công nghệ cao; tổng đàn gia súc, gia cầm tăng so với năm 2015 (5); tỷ trọng chăn nuôi chiếm 32% trong giá trị sản xuất nông nghiệp. Lĩnh vực lâm nghiệp đã rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng; trồng mới 51.000ha rừng tập trung, trọng tâm là phát triển rừng gỗ lớn cung cấp nguyên liệu cho chế biến; tỷ lệ che phủ rừng năm 2020 dự kiến đạt 53,46%, vượt mục tiêu Đại hội. Lĩnh vực thủy sản phát triển mạnh cả nuôi trồng, khai thác và dịch vụ hậu cần nghề cá; sản lượng thủy sản năm 2020 dự kiến tăng 25,5% so với năm 2015. Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) được chú trọng triển khai thực hiện.

1.2. Công nghiệp - xây dựng phát triển mạnh, đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng trưởng đột phá, bình quân hàng năm dự kiến tăng 21,2%, vượt kế hoạch, cao nhất từ trước đến nay; năm 2020 dự kiến đạt 151.300 tỷ đồng, gấp 2,6 lần năm 2015, đứng đầu các tỉnh Bắc Trung bộ. Đã hoàn thành và đưa vào hoạt động nhiều cơ sở công nghiệp mới (6), đặc biệt là Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn (một trong 3 dự án công nghiệp lớn nhất cả nước) (7); triển khai xây dựng một số dự án công nghiệp quy mô lớn, tạo tiền đề cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong giai đoạn tới (8). Các sản phẩm công nghiệp chủ lực đều duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động và sản xuất tiểu thủ công nghiệp được quan tâm phát triển, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động.

Giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng bình quân hàng năm dự kiến đạt 11,5%; năm 2020 dự kiến đạt 63.250 tỷ đồng, gấp 1,72 lần năm 2015. Các sản phẩm vật liệu xây dựng có thế mạnh phát triển nhanh, đáp ứng nhu cầu trong tỉnh, phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

1.3. Dịch vụ phát triển khá, nhiều lĩnh vực khởi sắc; tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân hàng năm dự kiến đạt 9,1%, vượt kế hoạch. Thương mại nội địa phát triển mạnh theo hướng hiện đại, văn minh; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng bình quân hàng năm 13,9%, năm 2020 dự kiến đạt 118.000 tỷ đồng, đứng thứ 7 cả nước về quy mô thị trường. Giá trị xuất khẩu tăng bình quân hàng năm dự kiến đạt 10,9%; năm 2020 dự kiến đạt 4 tỷ USD, gấp 2 lần mục tiêu Đại hội, gấp 2,8 lần năm 2015. Hạ tầng tại các khu, điểm du lịch được quan tâm đầu tư theo hướng hiện đại, cùng với chất lượng dịch vụ được nâng cao, đã tạo ra sức hấp dẫn mới; số lượng khách du lịch tăng bình quân hàng năm 15,6%, doanh thu tăng bình quân 31,7%. Dịch vụ vận tải phát triển đa dạng; vận chuyển hàng hóa, hành khách, xếp dỡ hàng hóa qua cảng đều duy trì tốc độ tăng trưởng khá (10); logistics có bước phát triển tốt; vận tải hàng không phát triển mạnh, Cảng Hàng không Thọ Xuân đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch thành cảng hàng không quốc tế. Dịch vụ tài chính, ngân hàng tiếp tục phát triển, vốn huy động tăng bình quân hàng năm 17,8%, dư nợ tăng bình quân 14,4%. Chất lượng dịch vụ bưu chính, viễn thông được nâng cao, mở rộng vùng phục vụ.

1.4. Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn luôn vượt dự toán và tăng trưởng cao; tốc độ tăng thu bình quân hàng năm dự kiến đạt 18,1%, là một trong các tỉnh có tốc độ tăng thu ngân sách cao nhất cả nước; năm 2020 dự kiến đạt 28.967 tỷ đồng, gấp 2,3 lần năm 2015. Việc phân bổ, sử dụng ngân sách được thực hiện theo quy định, đáp ứng kịp thời thực hiện nhiệm vụ trên các lĩnh vực.

1.5. Các thành phần kinh tế có bước phát triển. Kinh tế tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài phát triển mạnh; giai đoạn 2016 - 2020, dự kiến thành lập mới 14.000 doanh nghiệp, tổng vốn đăng ký 98.000 tỷ đồng; so với giai đoạn 2011 - 2015, gấp 2,6 lần về số doanh nghiệp và gấp 4,3 lần về vốn đăng ký; dự kiến năm 2020 đạt tỷ lệ 44,7 doanh nghiệp/1 vạn dân, gấp 1,88 lần so với năm 2015. Kinh tế Nhà nước tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, hoạt động hiệu quả hơn. Kinh tế HTX có chuyển biến tích cực, doanh thu bình quân của 1 HTX năm 2020 gấp 3,4 lần năm 2015.

2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đạt kết quả tích cực

2.1. Cơ cấu các ngành kinh tế trong GRDP chuyển dịch đúng hướng: Tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2020 dự kiến chiếm 10%, giảm 7,8%; công nghiệp - xây dựng chiếm 49,3%, tăng 10%; dịch vụ chiếm 31,5%, giảm 7%; thuế sản phẩm chiếm 9,2%, tăng 4,8% so với năm 2015.

Cơ cấu nội bộ trong từng ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng khai thác và phát huy tốt hơn tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương để nâng cao hiệu quả sản xuất. Trong ngành nông, lâm, thủy sản: Tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 76,3% năm 2015 dự kiến còn 69,1% năm 2020; lâm nghiệp tăng từ 5,7% lên 7,9%, thủy sản tăng từ 17,9% lên 23%; cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển dịch theo hướng gắn sản xuất với chế biến và nhu cầu thị trường; khai thác thủy sản xa bờ chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong sản xuất thủy sản.

Cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp chuyển dịch theo định hướng phát triển của tỉnh; dự kiến năm 2020 công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 98% trong giá trị sản xuất ngành công nghiệp, tăng 2,3% so với năm 2015.

Ngành dịch vụ chuyển dịch theo hướng tập trung phát triển các lĩnh vực, sản phẩm có lợi thế, có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn như: Du lịch, y tế, viễn thông, vận tải, ngân hàng.

- Cơ cấu vốn đầu tư chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng vốn đầu tư Nhà nước, tăng nhanh tỷ trọng vốn đầu tư ngoài Nhà nước (từ 48,6% giai đoạn 2011 - 2015 lên 61,3% giai đoạn 2016 - 2020).

- Cơ cấu lao động chuyển dịch phù hợp với chuyển dịch cơ cấu ngành và các thành phần kinh tế; tỷ lệ lao động làm việc trong ngành nông, lâm, thủy sản giảm từ 47,9% năm 2015 xuống 37,9% năm 2020, đạt mục tiêu Đại hội; tỷ lệ lao động làm việc trong ngành công nghiệp, xây dựng tăng từ 27,5% lên 35,1%; trong ngành dịch vụ tăng từ 24,6% lên 27%.

2.2. Mô hình tăng trưởng kinh tế của tỉnh từng bước chuyển đổi từ chiều rộng sang chiều sâu; tăng trưởng giảm dần sự phụ thuộc vào vốn đầu tư, sử dụng lao động giản đơn, khai thác, sử dụng tài nguyên; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại, chú trọng cải tiến phương thức quản lý, nâng cao kỹ năng, trình độ của người lao động để mở rộng sản xuất, tăng năng suất lao động. Đóng góp của các nhân tố tổng hợp (TFP) cho tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân giai đoạn 2016 - 2020 dự kiến đạt 38,56%, tăng cao so với giai đoạn 2011 - 2015 (đạt 6,2%) (11). Năng suất lao động năm 2020 dự kiến đạt 99,7 triệu đồng, gấp 2,5 lần năm 2015; tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2016 - 2020 dự kiến đạt 11%/năm, đạt mục Đại hội, cao hơn nhiều so với giai đoạn 2011 - 2015 (7,53%). Trong nông nghiệp, đã tập trung ứng dụng các công nghệ mới, tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, nâng tỷ lệ sản phẩm ứng dụng công nghệ cao lên 21%. Trong công nghiệp, nhiều nhà máy, cơ sở công nghiệp mới đi vào hoạt động được sử dụng thiết bị sản xuất với công nghệ tiên tiến, tự động hóa cao, nhất là trong các lĩnh vực lọc hóa dầu, sản xuất dầu ăn, xi măng, điện, thép, chế biến gia súc, gia cầm... Trong lĩnh vực dịch vụ, đã tập trung phát triển các sản phẩm du lịch, vận tải, thương mại, giáo dục, y tế chất lượng cao.

3. Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, huy động vốn cho đầu tư phát triển đạt mục tiêu Đại hội; công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế được mở rộng, đi vào chiều sâu và hiệu quả hơn

3.1. Môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện (12); đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; rà soát, bổ sung các quy hoạch; đầu tư hoàn thiện hệ thống hạ tầng; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động đầu tư của doanh nghiệp (13); sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh các quy định, ban hành các cơ chế, chính sách, từng bước tạo ra môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn. Đồng thời, chú trọng đổi mới, nâng cao hiệu quả các hoạt động xúc tiến đầu tư; hằng năm tổ chức các đoàn đi xúc tiến đầu tư ở các nước có nguồn lực đầu tư lớn (14); năm 2017 tổ chức thành công Hội nghị xúc tiến đầu tư cấp quốc gia. Bằng các giải pháp đồng bộ, hiệu quả, từ năm 2016 đến nay đã thu hút được 908 dự án đầu tư trực tiếp (53 dự án FDI), với tổng vốn đầu tư đăng ký 94.404 tỷ đồng và 3.305 triệu USD; đứng trong nhóm các tỉnh dẫn đầu cả nước về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (15).

Cùng với thu hút đầu tư từ doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, tỉnh đã chú trọng vận động, thu hút các nguồn vốn ODA, NGO, nguồn lực của nhân dân để phát triển kinh tế - xã hội; từ năm 2016 đến nay, đã thu hút được 13 dự án ODA, với tổng vốn đầu tư 393,6 triệu USD; 226 chương trình, dự án NGO, với tổng vốn đầu tư 30,3 triệu USD. Hoạt động đầu tư công có chuyển biến tích cực, có trọng tâm, trọng điểm và được phân bổ kế hoạch sớm; tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công hàng năm luôn đứng trong nhóm các tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước.

Giai đoạn 2016 - 2020, dự kiến tổng huy động vốn đầu tư toàn xã hội đạt 610 nghìn tỷ đồng, đạt mục tiêu Đại hội, gấp 1,8 lần giai đoạn 2011 - 2015. Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư được nâng lên rõ rệt, chỉ số ICOR từ 14,85 (năm 2015) giảm còn 4,88 (năm 2019). Nhiều dự án sản xuất, kinh doanh, đầu tư kết cấu hạ tầng quy mô lớn đã hoàn thành đưa vào hoạt động, đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh (16). Công tác quản lý đầu tư, quản lý chất lượng công trình, dự án được tăng cường.

3.2. Tăng cường quan hệ hợp tác toàn diện, có hiệu quả với tỉnh Hủa Phăn (nước CHDCND Lào); mở rộng quan hệ hợp tác với TP Seongnam (Hàn Quốc), tỉnh Mittelsachsen (CHLB Đức), thiết lập quan hệ ngoại giao với tỉnh Farwaniyah (Cô-Oét), xúc tiến thiết lập quan hệ ngoại giao với tỉnh Tula (Cộng hòa Liên bang Nga). Lãnh đạo tỉnh tiếp và làm việc với nhiều đoàn công tác của các nước, các tổ chức tài chính quốc tế, các tập đoàn kinh tế, góp phần tăng cường giới thiệu tiềm năng, thế mạnh, thu hút đầu tư vào tỉnh. Quan hệ hợp tác với các Đại sứ quán, các cơ quan hợp tác quốc tế, các tổ chức quốc tế được mở rộng và phát triển. Đối ngoại nhân dân được quan tâm, các tổ chức hữu nghị được củng cố, đổi mới hoạt động theo hướng thiết thực.

4. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tiếp tục được quan tâm đầu tư; đô thị phát triển nhanh theo hướng hiện đại, tạo ra diện mạo mới cho phát triển của tỉnh

4.1. Tỉnh ưu tiên bố trí ngân sách, tăng cường thu hút các nguồn vốn trong nước, nước ngoài, theo hình thức đối tác công tư (PPP), nguồn lực trong nhân dân để đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội. Tập trung đầu tư các công trình hạ tầng giao thông lớn, có tính kết nối liên vùng, kết nối các trung tâm kinh tế của tỉnh; hạ tầng thủy lợi, đê điều được đầu tư, nâng cấp, cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu; hạ tầng cung cấp điện, công nghệ thông tin và truyền thông, giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học công nghệ... được quan tâm đầu tư, phù hợp với yêu cầu phát triển của các ngành, lĩnh vực. Trong giai đoạn 2016 - 2020, đã đầu tư, nâng cấp 290km quốc lộ, đường tỉnh và các tuyến đường trục chính; đầu tư mới 272km và cứng hóa 2.615km đường giao thông nông thôn; sửa chữa, nâng cấp 142 công trình thủy lợi và 7.390km kênh, mương liên huyện, liên xã; tu bổ, nâng cấp 133km đê, 19,7km kè; đưa vào hoạt động 5 công trình cấp điện; kiên cố hóa 23.039 phòng học; đưa vào sử dụng 7 bệnh viện; trùng tu, tôn tạo và chống xuống cấp 230 di tích cấp quốc gia và cấp tỉnh...

4.2. Tốc độ đô thị hóa được đẩy mạnh; thành lập mới 1 thành phố, 1 thị xã, 3 thị trấn, 30 phường17; hoàn thành việc mở rộng địa giới hành chính 28 thị trấn; dự kiến tỷ lệ đô thị hóa năm 2020 là 35%, đạt mục tiêu Đại hội. Kết cấu hạ tầng các đô thị được quan tâm đầu tư, nâng cấp theo hướng đồng bộ, hiện đại; liên đô thị TP Thanh Hóa - TP Sầm Sơn đang được đầu tư kết nối; các đô thị Bỉm Sơn, Nghi Sơn - Tĩnh Gia, Lam Sơn - Sao Vàng có bước phát triển mới. Hiện nay, một số khu đô thị mới trên địa bàn TP Thanh Hóa có các công trình kiến trúc hiện đại, góp phần tạo ra diện mạo mới về đô thị và phát triển của tỉnh (18).

5. Công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường có chuyển biến tích cực; phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu được thực hiện kịp thời, hiệu quả

Công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên, khoáng sản được tăng cường. Đất đai được quản lý chặt chẽ theo quy định của pháp luật; từ năm 2016 đến nay, đã thu hồi 13.584ha đất để triển khai các công trình, dự án; thực hiện giao đất, cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng 5.775,2ha để triển khai 1.167 dự án phát triển kinh tế - xã hội; chấm dứt hiệu lực quyết định chủ trương đầu tư đối với 23 dự án sử dụng đất vi phạm quy định. Quản lý tài nguyên khoáng sản có chuyển biến tích cực; đã tập trung chấn chỉnh, hạn chế các hoạt động khai thác khoáng sản trái phép.

Công tác bảo vệ môi trường được quan tâm; Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TU19 về công tác bảo vệ môi trường. Lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, khắc phục kịp thời các sự cố môi trường (20). Dự kiến năm 2020, tỷ lệ dân số đô thị được dùng nước sạch đạt 95%; tỷ lệ dân số nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh đạt 95,5%; tỷ lệ chất thải nguy hại được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm 80%; tỷ lệ chất thải y tế được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn là 100%; đạt mục tiêu Đại hội.

Đã kịp thời khắc phục hậu quả do các đợt lũ lụt lớn xảy ra trong năm 2017, năm 2018, năm 2019, sớm ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân. Công tác ứng phó với biến đổi khí hậu được chú trọng; trồng mới 193,4ha rừng ngập mặn phòng hộ ven biển, chống xói lở bờ biển tại các huyện: Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa; lắp đặt và đưa vào vận hành hệ thống cảnh báo nguy cơ lũ ống, lũ quét tại các huyện: Quan Sơn, Quan Hóa, Mường Lát.

6. Văn hóa, xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ, an sinh xã hội được chăm lo, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt

6.1. Hoạt động khoa học công nghệ được đẩy mạnh theo hướng đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ khoa học - kỹ thuật phục vụ sản xuất và đời sống. Các tổ chức khoa học công nghệ công lập được tổ chức, sắp xếp lại, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, bồi dưỡng, đào tạo nhân lực, chất lượng hoạt động được nâng lên. Từ năm 2016 đến nay, đã triển khai 332 nhiệm vụ khoa học công nghệ, nghiệm thu 146 nhiệm vụ, trong đó có nhiều nhiệm vụ được áp dụng, phát huy hiệu quả. Thị trường khoa học công nghệ được hình thành và phát triển, có thêm 18 doanh nghiệp được chứng nhận doanh nghiệp khoa học công nghệ, nâng tổng số doanh nghiệp khoa học công nghệ lên 27 doanh nghiệp, đứng thứ 3 cả nước. Quản lý Nhà nước về công nghệ, sở hữu trí tuệ được tăng cường.

6.2. Chất lượng hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao có chuyển biến tích cực. Đã tập trung xây dựng hình ảnh tốt đẹp về Thanh Hóa, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở gắn với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, xây dựng tập thể, cá nhân kiểu mẫu; năm 2020 dự kiến tỷ lệ xã, phường, thị trấn, cơ quan kiểu mẫu đạt 10%, đạt mục tiêu Đại hội. Sau nhiều quyết tâm chỉ đạo, đã ban hành được ngân hàng tên đường phố; xác định được năm 1029 là năm xuất hiện Danh xưng Thanh Hóa với tư cách là đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương. Công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được quan tâm; có thêm 2 di tích được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt21. Hoạt động thông tin truyền thông có sự đổi mới về nội dung và hình thức, đạt kết quả tích cực. Phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển mạnh; thể thao thành tích cao luôn đứng trong nhóm các tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước (22).

6.3. Giáo dục và Đào tạo phát triển theo hướng chuẩn hóa và xã hội hóa. Quy mô giáo dục, mạng lưới trường, lớp học được rà soát, sắp xếp hợp lý; đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các cấp học được điều động, bố trí cơ bản bảo đảm về số lượng, chuẩn hóa về trình độ. Giáo dục toàn diện được quan tâm; giáo dục mũi nhọn đạt kết quả cao, từ năm 2016 đến nay, đạt 16 huy chương tại các kỳ thi Olympic quốc tế và khu vực (8 HCV, 5 HCB, 3 HCĐ); tại các kỳ thi học sinh giỏi THPT toàn quốc Thanh Hóa luôn đứng trong nhóm 6 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước. Một số vấn đề bức xúc như: Liên kết đào tạo, dạy thêm, học thêm trái quy định, lạm thu trong các cơ sở giáo dục, đào tạo được chấn chỉnh. Dự kiến tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia năm 2020 đạt 72,2%, vượt mục tiêu Đại hội. Giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp được rà soát, sắp xếp lại, gắn đào tạo với nhu cầu xã hội; tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2020 dự kiến đạt 70%, đạt mục tiêu Đại hội. Công tác khuyến học, khuyến tài tiếp tục đạt kết quả tích cực.

6.4. Công tác y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân chất lượng được nâng lên. Thực hiện cơ chế tự chủ và xã hội hóa lĩnh vực y tế được đẩy mạnh; cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực y tế được chú trọng; đã đầu tư và đưa 7 bệnh viện mới vào hoạt động (1 bệnh viện công lập, 6 bệnh viện ngoài công lập); thành lập mới một số khoa và đã ứng dụng, chuyển giao thành công nhiều kỹ thuật mới, phức tạp tại các bệnh viện tuyến tỉnh (23). Mạng lưới cơ sở y tế được rà soát, sắp xếp lại phù hợp với nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Dự kiến năm 2020 đạt 36 giường bệnh/1 vạn dân, tăng 12,2 giường bệnh so với năm 2015; đạt 11 bác sĩ/1 vạn dân, tăng 3,4 bác sĩ; tỷ lệ xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế là 90%, tăng 44,9%; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 90%; đều vượt mục tiêu Đại hội. Công tác dân số và phát triển được quan tâm.

Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm được chú trọng; Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TU24 về công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện đồng bộ, quyết liệt. Đã ngăn chặn có hiệu quả tình trạng sử dụng chất cấm trong sản xuất nông nghiệp, hạn chế tình trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm. Đến nay, có 209 xã, phường, thị trấn được công nhận đạt tiêu chí xã an toàn thực phẩm, chiếm 37,4%.

6.5. An sinh xã hội được chăm lo, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Công tác giải quyết việc làm đạt kết quả tích cực; dự kiến trong 5 năm giải quyết việc làm cho 336 nghìn lao động, vượt mục tiêu Đại hội; tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị giảm từ 3,6% xuống 3,1%. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm 2,56%, đạt mục tiêu Đại hội. Đã tập trung giải quyết kịp thời các vụ đình công, lãn công trái pháp luật; khắc phục tình trạng nợ đóng bảo hiểm xã hội trong các doanh nghiệp; giải quyết những tồn đọng về xác nhận, công nhận người có công với cách mạng. Các chế độ, chính sách an sinh xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng; hỗ trợ 19.993 hộ gia đình có công với cách mạng xây dựng nhà ở, đạt 100% kế hoạch.

7. Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế - xã hội phát triển

Tiềm lực quốc phòng được tăng cường; chủ quyền biên giới, vùng biển được giữ vững. Khu vực phòng thủ cấp tỉnh, cấp huyện được xây dựng ngày càng vững chắc. Đầu tư cho quốc phòng - an ninh ngày càng tăng; phát triển kinh tế đã được gắn chặt với bảo đảm quốc phòng - an ninh. Công tác quân sự địa phương, xây dựng lực lượng bộ đội thường trực, dự bị động viên, dân quân tự vệ, tuyển quân, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng hàng năm đều hoàn thành kế hoạch.

An ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa, an ninh tôn giáo, dân tộc được bảo đảm, trật tự xã hội được giữ vững. Các vụ việc phức tạp về an ninh trật tự xảy ra trên địa bàn được giải quyết kịp thời, hiệu quả, dứt điểm, không để hình thành điểm nóng (25). Đã triệt xóa được một số tổ chức “tín dụng đen” hoạt động với quy mô liên tỉnh, đường dây đánh bạc “nghìn tỷ”, đường dây mua bán, vận chuyển ma túy lớn, các băng nhóm tội phạm tồn tại lâu năm; tội phạm xâm phạm trật tự xã hội giảm bình quân hàng năm 5%; tai nạn giao thông được kiềm chế. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được triển khai sâu rộng; bình quân hàng năm có 70% xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh trật tự, đạt mục tiêu Đại hội. Công tác tiếp dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo được quan tâm thực hiện và có chuyển biến tích cực.

II. CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

1. Công tác xây dựng Đảng đạt kết quả rõ nét, năng lực lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng được nâng lên

1.1. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị được triển khai thực hiện nghiêm túc. Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các cấp ủy đảng đã tập trung khắc phục những hạn chế, yếu kém về công tác xây dựng Đảng; sửa đổi, bổ sung, ban hành các quy chế, quy định để quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở; tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chỉ đạo các cấp ủy đảng, các cơ quan, đơn vị và cán bộ, đảng viên thực hiện nghiêm Quy định số 55-QĐ/TW của Bộ Chính trị và Quy định số 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương (26); biểu dương, nhân rộng các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt. Xây dựng lực lượng thực hiện nhiệm vụ đấu tranh, phản bác các thông tin sai trái, thù địch, xấu độc; chỉ đạo UBND tỉnh xây dựng và triển khai thực hiện các chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ trong khối cơ quan Nhà nước.

Hàng năm, cùng với kiểm điểm công tác lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các cấp ủy đảng, cán bộ, đảng viên đã bám sát vào các tiêu chí nhận diện những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) để tổ chức kiểm điểm tự phê bình và phê bình nghiêm túc; sau kiểm điểm tập trung khắc phục những hạn chế, khuyết điểm được chỉ ra, nên đã tạo chuyển biến tích cực trong triển khai thực hiện nhiệm vụ của các cấp, các ngành và của tỉnh; đồng thời khắc phục một bước tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và trong xã hội.

1.2. Công tác chính trị tư tưởng được đổi mới, có tác động lan tỏa rõ nét, mang lại hiệu quả thiết thực

Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các cấp ủy đảng đã đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả các hội nghị học tập, triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng. Ban hành nhiều chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác tư tưởng, lý luận chính trị, báo chí xuất bản. Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, truyền thống cách mạng, lịch sử, văn hóa của quê hương, qua đó khơi dậy được niềm tự hào, ý thức trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ.

Trong giai đoạn 2016 - 2020, tỉnh đã tổ chức thành công nhiều sự kiện chính trị, văn hóa lớn, đem lại hiệu quả thiết thực; đặc biệt là các hoạt động kỷ niệm 990 năm Thanh Hóa (1029 - 2019), kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969 - 2019) và 50 năm Ngày mất của Người đã để lại ấn tượng tốt đẹp, có sức lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội.

Các cấp ủy đảng thường xuyên nắm bắt tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân để lãnh đạo, chỉ đạo tuyên truyền, kịp thời định hướng dư luận xã hội; đồng thời đấu tranh, bác bỏ những thông tin sai trái ảnh hưởng đến sự phát triển và hình ảnh của tỉnh. Cơ sở vật chất phục vụ công tác tuyên giáo được quan tâm đầu tư nâng cấp; quy mô, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của Trường Chính trị tỉnh và các trung tâm chính trị cấp huyện được nâng lên; đã có 25/27 trung tâm chính trị được công nhận đạt chuẩn.

1.3. Công tác tổ chức xây dựng Đảng được triển khai thực hiện đồng bộ, có nhiều cách làm sáng tạo và đạt kết quả quan trọng

Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) (27), tỉnh đã tiến hành rà soát, sắp xếp, kiện toàn, tinh gọn đầu mối bên trong gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan đảng, chính quyền, MTTQ, các đoàn thể, đơn vị sự nghiệp công lập từ tỉnh đến cơ sở và thu được nhiều kết quả quan trọng (28).

Cùng với sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tỉnh đã tập trung chỉ đạo sáp nhập 3.100 thôn, tổ dân phố, để thành lập 1.522 thôn, tổ dân phố, theo đó, toàn tỉnh đã giảm từ 5.971 thôn, tổ dân phố, xuống còn 4.393 thôn, tổ dân phố (giảm 1.578). Đã hoàn thành việc sáp nhập 143 xã, thành 67 xã, (giảm 76 xã), là một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước trong việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã theo tinh thần Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 24-12-2018 của Bộ Chính trị. Việc sáp nhập các xã, thôn, tổ dân phố không chỉ tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã, mà còn góp phần tinh giản biên chế, tiết kiệm chi ngân sách (29). Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Đã sửa đổi, bổ sung và ban hành nhiều văn bản về công tác cán bộ, trên cơ sở đó siết chặt quy trình, tiêu chuẩn, điều kiện trong từng khâu của công tác cán bộ. Từ năm 2016 đến nay, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử 221 lượt cán bộ; điều động, luân chuyển 75 lượt cán bộ. Đến nay, có 25/27 huyện, thị, thành phố (chiếm 92,6%) và 343/559 xã, phường, thị trấn (chiếm 61,3%) bố trí 1 trong 3 chức danh chủ chốt không là người địa phương. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ, quản lý, bổ sung hồ sơ, lý lịch cán bộ, đảng viên được thực hiện theo quy định. Chính sách cán bộ được thực hiện kịp thời.

Công tác xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức cơ sở đảng, phát triển đảng viên và nâng cao chất lượng đảng viên được các cấp ủy, tổ chức đảng tập trung chỉ đạo thực hiện, nhất là đối với những tổ chức cơ sở đảng yếu kém. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, đã kết nạp 29.905 đảng viên, nâng tổng số đảng viên trong toàn Đảng bộ lên 228.782 đồng chí. Công tác đánh giá, xếp loại đảng viên được thực hiện nghiêm túc, khách quan, lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị làm cơ sở để đánh giá, xếp loại đảng viên.

1.4. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng được tăng cường

Cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp đã triển khai thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các chủ trương, quy định, hướng dẫn của cấp trên về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng; rà soát, bổ sung và ban hành mới một số quy định, quy chế, quy trình về công tác kiểm tra, giám sát, tạo sự thống nhất trong nhận thức và thực hiện. Chủ động triển khai thực hiện toàn diện, có hiệu quả nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều lệ Đảng và nhiệm vụ cấp trên giao. Chú trọng kiểm tra, giám sát một số lĩnh vực dễ phát sinh sai phạm; việc khắc phục, sửa chữa những hạn chế, khuyết điểm sau kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII); việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; công tác phòng, chống tham nhũng, kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền; thực hiện quy chế làm việc và chức trách, nhiệm vụ được giao; việc kê khai tài sản của cán bộ, đảng viên... Chủ động phát hiện và kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm; xem xét, kết luận và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, cấp ủy, tổ chức đảng đã kiểm tra 7.540 tổ chức đảng và 23.172 đảng viên; giám sát 10.315 tổ chức đảng và 27.906 đảng viên. Ủy ban kiểm tra các cấp kiểm tra 268 tổ chức đảng và 3.782 đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm; kết luận 121 tổ chức đảng và 2.968 đảng viên có vi phạm. Cấp ủy các cấp đã thi hành kỷ luật 40 tổ chức đảng (giảm 10 tổ chức đảng so với nhiệm kỳ trước); cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 3.142 đảng viên (tăng 709 đảng viên so với nhiệm kỳ trước), trong đó có 829 cấp ủy viên các cấp. Giải quyết 18 lượt tố cáo tổ chức đảng và 234 lượt tố cáo đảng viên; giải quyết 17 lượt khiếu nại về kỷ luật Đảng. Kết quả kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, tạo sự đồng thuận của nhân dân; góp phần giữ vững kỷ cương, tăng cường kỷ luật của Đảng, cơ bản khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh; vùng cấm; hạ cánh an toàn”.

1.5. Hiệu quả công tác dân vận được nâng lên, góp phần tạo sự đồng thuận trong nhân dân, tăng cường sự gắn bó mật thiết giữa cấp ủy, chính quyền với nhân dân

Cùng với triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nghị quyết của Trung ương, các cấp ủy đảng, chính quyền trong tỉnh đã ban hành, triển khai thực hiện nhiều chủ trương, giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác dân vận. Tập trung chấn chỉnh lề lối làm việc, xây dựng tác phong công tác dân vận cho đội ngũ cán bộ, công chức “trọng dân, gần dân, có trách nhiệm với nhân dân”; thực hiện nghiêm quy chế dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo quy định; thường xuyên tiếp xúc, đối thoại, giải quyết các kiến nghị của người dân và doanh nghiệp; công tác dân tộc, tôn giáo được thực hiện hiệu quả, góp phần tạo sự ổn định ở cơ sở. Hệ thống dân vận các cấp đổi mới phương pháp, cách làm công tác dân vận; chủ động nắm tình hình cơ sở, tình hình nhân dân, tham mưu cho cấp ủy đảng, chính quyền giải quyết các vấn đề phức tạp phát sinh, những khó khăn, vướng mắc ở các địa phương, đơn vị, đặc biệt là trong xây dựng nông thôn mới, thực hiện giải phóng mặt bằng phục vụ triển khai các dự án, thực hiện sáp nhập thôn, tổ dân phố, sắp xếp lại các đơn vị hành chính cấp xã... Khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố, nhân dân đồng tình, tin tưởng vào sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, tích cực tham gia xây dựng quê hương, đất nước.

1.6. Công tác nội chính và phòng chống tham nhũng được quan tâm thực hiện, đạt kết quả

Tỉnh ủy và các cấp ủy đảng chỉ đạo các cơ quan nội chính nắm chắc tình hình, chủ động giải quyết các vấn đề phức tạp phát sinh trên địa bàn; đẩy mạnh cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp bảo đảm đúng pháp luật, không để xảy ra án oan, hạn chế sai sót trong hoạt động tố tụng. Triển khai thực hiện nghiêm túc các chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, lãng phí; rà soát, xây dựng, sửa đổi các thể chế quản lý Nhà nước về kinh tế, ngân sách, đầu tư và sử dụng đất đai để phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng; yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức thực hiện nghiêm việc kê khai tài sản theo quy định. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý các hành vi tham nhũng; rà soát, đưa một số vụ án tham nhũng phức tạp vào diện Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy trực tiếp chỉ đạo giải quyết. Trong 5 năm, đã khởi tố, điều tra 131 vụ, 271 bị can về tội tham nhũng và kinh tế; đã xét xử 78 vụ, với 132 bị cáo.

1.7. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy và các cấp ủy đảng được đổi mới, bám sát vào phương châm hành động “Đoàn kết - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển”. Trong lãnh đạo, chỉ đạo vừa bảo đảm tính toàn diện, vừa có trọng tâm, trọng điểm; phát huy dân chủ, tính sáng tạo, nhưng bảo đảm nguyên tắc, quy định của Đảng và quy chế làm việc; chú trọng xây dựng và triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách, các quy hoạch, định hướng lớn để tranh thủ tối đa thời cơ, vận hội mới; đồng thời tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề cấp bách, khó khăn, vướng mắc; đề cao vai trò, trách nhiệm, sức mạnh của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, kiểm tra, giám sát thực hiện nhiệm vụ của các cấp, các ngành. Đó là yếu tố quan trọng, quyết định đến sự phát triển của tỉnh trong giai đoạn 2016 - 2020.

2. Quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực được tăng cường, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp được nâng lên

- Đoàn ĐBQH tỉnh đã thể hiện rõ trách nhiệm, tích cực tham gia các hoạt động của Quốc hội, đặc biệt là thảo luận, đóng góp ý kiến xây dựng pháp luật và xem xét quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước tại các kỳ họp Quốc hội. Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc tiếp xúc cử tri, tổng hợp đầy đủ ý kiến của cử tri và nhân dân trong tỉnh để báo cáo tại các kỳ họp Quốc hội, kiến nghị với các cơ quan Trung ương, địa phương xem xét giải quyết. Thường xuyên giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội, tổ chức giám sát chuyên đề tại các ngành, địa phương, đơn vị có vấn đề bức xúc, nổi cộm, cử tri và nhân dân quan tâm.

- HĐND tỉnh và HĐND các cấp thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, thể hiện rõ vai trò cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương. Đã có nhiều đổi mới trong cách thức tổ chức các kỳ họp, các hội nghị tiếp xúc cử tri và hoạt động giám sát, góp phần làm rõ thêm những mặt tích cực, các hạn chế, yếu kém, bất cập trong công tác quản lý, điều hành trên các lĩnh vực để có biện pháp giải quyết, khắc phục. Tăng cường giám sát, đôn đốc thực hiện các nghị quyết của HĐND tỉnh và HĐND các cấp, giải quyết các kiến nghị của cử tri. Chất lượng hoạt động của đại biểu HĐND các cấp có chuyển biến tích cực.

- UBND tỉnh và UBND các cấp tập trung chỉ đạo, điều hành, triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh. Xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách, tạo điều kiện, môi trường thuận lợi cho kinh tế - xã hội phát triển. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động sản xuất, kinh doanh; đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, thu hút các nguồn vốn cho đầu tư phát triển. Tập trung giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, phát triển giáo dục, y tế, thực hiện công tác giảm nghèo. Rà soát, sắp xếp tổ chức bộ máy khối hành chính và khối sự nghiệp; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao trách nhiệm, chất lượng thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

3. Hoạt động của MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội có sự đổi mới, thiết thực, hiệu quả hơn

MTTQ và các đoàn thể tập trung đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; thực hiện tốt chức năng tập hợp, tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và nhân dân; tham gia giải quyết các vấn đề nổi cộm, bức xúc ở cơ sở. Tổ chức có hiệu quả các phong trào thi đua tham gia xây dựng nông thôn mới, bảo vệ môi trường, bảo đảm trật tự an toàn giao thông; chủ động thực hiện các công trình, phần việc tham gia phát triển kinh tế - xã hội. Tổ chức các hoạt động giám sát và phản biện xã hội; từ năm 2016 đến nay, MTTQ và các đoàn thể đã tổ chức 5.968 cuộc giám sát, 498 hội nghị phản biện vào dự thảo các Nghị quyết của HĐND, các chương trình, đề án, dự án, kế hoạch của UBND các cấp. Tích cực tổ chức các hoạt động hỗ trợ đoàn viên, hội viên và nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững, góp phần bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn. Chăm lo xây dựng, củng cố tổ chức, phát triển đoàn viên, hội viên và các tổ chức đoàn thể trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nước; tỷ lệ tập hợp đoàn viên, hội viên được nâng lên: Hội cựu chiến binh đạt 98%, hội Liên hiệp phụ nữ đạt 80,98%, hội nông dân đạt 100%, đoàn thanh niên đạt 71,4%, liên đoàn lao động đạt 84%; từ năm 2016 đến nay, thành lập mới 345 tổ chức đoàn thể trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nước.

III. KẾT QUẢ THỰC HIỆN 5 CHƯƠNG TRÌNH TRỌNG TÂM VÀ 4 KHÂU ĐỘT PHÁ

1. Kết quả thực hiện 5 chương trình trọng tâm

1.1. Chương trình phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới đạt kết quả tích cực, các chỉ tiêu chủ yếu của chương trình như: Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản tăng bình quân hàng năm; tỷ lệ che phủ rừng; tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh; tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội, đều đạt và vượt kế hoạch. Cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp chuyển dịch tích cực, tỷ trọng chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản ngày càng tăng; các hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến, hiệu quả được nhân rộng; thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn đạt kết quả tích cực, đã thu hút được một số dự án quy mô lớn sản xuất theo chuỗi giá trị; ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất được đẩy mạnh; hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Xây dựng nông thôn mới đạt kết quả cao; đến nay, toàn tỉnh có 6 đơn vị cấp huyện, 376 xã và 950 thôn, bản hoàn thành xây dựng nông thôn mới (tăng 6 đơn vị cấp huyện, 263 xã so với năm 2015); tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới đạt 64,46%, vượt mục tiêu Đại hội; bình quân đạt 17,5 tiêu chí/xã, tăng 5,2 tiêu chí so với năm 2015; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ở khu vực nông thôn được nâng lên rõ rệt.

1.2. Chương trình phát triển Khu Kinh tế Nghi Sơn và các Khu công nghiệp đạt nhiều kết quả quan trọng, đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh: Khu Kinh tế Nghi Sơn đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch mở rộng lên 106.000ha. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong Khu Kinh tế Nghi Sơn và các Khu công nghiệp được quan tâm đầu tư, từng bước hoàn thiện. Từ năm 2016 đến nay, đã thu hút được 249 dự án (35 dự án FDI) với tổng vốn đầu tư đăng ký 47.427 tỷ đồng và 3.300 triệu USD, nâng tổng số dự án thu hút vào Khu Kinh tế Nghi Sơn và các Khu công nghiệp lên 606 dự án (57 dự án FDI) với tổng vốn đăng ký 147.459 tỷ đồng và 13.246 triệu USD. Đến nay, đã có 411 dự án hoàn thành và đi vào hoạt động, trong đó có một số dự án trọng điểm, có tác động lan tỏa, đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế của tỉnh, như: Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn, Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 1, Xi măng Nghi Sơn, Xi măng Công Thanh, các dự án may mặc, da giày. Giai đoạn 2016 - 2020, tổng giá trị sản xuất công nghiệp, dịch vụ, thương mại của các doanh nghiệp tại Khu Kinh tế Nghi Sơn và các Khu công nghiệp dự kiến đạt 577.034 tỷ đồng, vượt 30,8% kế hoạch; tổng giá trị xuất khẩu đạt 8.576 triệu USD, vượt 39% kế hoạch; nộp ngân sách Nhà nước đạt 56.379 tỷ đồng; giải quyết việc làm cho 104.000 lao động.

1.3. Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đạt kết quả rõ nét, góp phần bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn: Sản xuất có bước phát triển, giải quyết việc làm, thu nhập, đời sống của hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo chuyển biến rõ nét; thu nhập bình quân của hộ nghèo năm 2020 dự kiến đạt 1,71 triệu đồng/người/tháng, gấp 2,5 lần năm 2015, đạt kế hoạch. Các hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống ở các huyện nghèo, xã nghèo, xã bãi ngang, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm đầu tư; các chính sách về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và vệ sinh môi trường, tiếp cận thông tin được triển khai thực hiện hiệu quả. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, từ 13,51% năm 2016 xuống còn 3,27% năm 2019, bình quân hàng năm giảm 2,56%/năm, đạt kế hoạch. Đã có 1 huyện thoát khỏi huyện nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ; 11 xã bãi ngang ven biển, 5 xã và 127 thôn, bản khu vực miền núi thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn; 39 xã đặc biệt khó khăn đạt chuẩn nông thôn mới.

1.4. Chương trình phát triển du lịch đạt nhiều kết quả, làm thay đổi diện mạo du lịch của tỉnh: Tỉnh quan tâm thu hút đầu tư phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kinh tế dịch vụ; hạ tầng các điểm du lịch được đầu tư nâng cấp theo hướng hiện đại; nhiều công trình có quy mô lớn đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, góp phần thay đổi mạnh mẽ du lịch của tỉnh, như: Khu đô thị du lịch sinh thái FLC (GĐ 1), các dự án khu nghỉ dưỡng, khách sạn tại Sầm Sơn, Hải Tiến, Hải Hòa. Du lịch sinh thái ở khu vực miền núi được quan tâm đầu tư, khai thác. Công tác kiểm soát giá, vệ sinh môi trường, bảo đảm an toàn thực phẩm, an ninh trật tự được tăng cường; chất lượng dịch vụ du lịch, văn hóa du lịch có chuyển biến tích cực, diện mạo và vị thế du lịch của tỉnh được nâng cao, sức hấp dẫn du khách ngày càng tăng. Giai đoạn 2016 - 2020, dự kiến ngành du lịch đón 42,58 triệu lượt khách, vượt 0,7% kế hoạch (khách quốc tế 1,28 triệu lượt người, vượt 1,6% kế hoạch); tổng doanh thu đạt 59.946 tỷ đồng, vượt 0,2% kế hoạch.

1.5. Chương trình đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực: Trong giai đoạn 2016 - 2020, toàn tỉnh đào tạo, cung ứng cho thị trường 410.600 lao động, vượt 3,7% kế hoạch, trong đó các cơ sở giáo dục đại học đào tạo 18.000 người, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo 392.600 người. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 55% năm 2015 dự kiến lên 70% năm 2020, đạt kế hoạch. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp có chuyển biến rõ rệt; 100% cán bộ, công chức cấp tỉnh, cấp huyện, 96% cán bộ công chức cấp xã và 99,5% viên chức đạt chuẩn về trình độ theo quy định. Các ngành chức năng đã tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về khởi sự doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp cho 72.600 người, trong đó có 28.500 doanh nhân đang lãnh đạo, quản lý, điều hành các doanh nghiệp. Nguồn nhân lực được bố trí, sử dụng hợp lý phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và các địa phương.

2. Kết quả thực hiện 4 khâu đột phá

2.1. Khâu đột phá về phát triển nhanh, đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội: Tỉnh đã tập trung rà soát, bổ sung, xây dựng các quy hoạch, cơ chế, chính sách, danh mục dự án kêu gọi đầu tư giai đoạn 2016 - 2020 để vận động, kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; ưu tiên bố trí vốn ngân sách để đầu tư các công trình hạ tầng quan trọng, thiết yếu. Trong giai đoạn 2016 - 2020, có 68 dự án hạ tầng lớn thuộc các lĩnh vực giao thông, thủy lợi, cấp điện, công nghệ thông tin, giáo dục, y tế, văn hóa được đầu tư xây dựng, với tổng vốn đầu tư 71.900 tỷ đồng. Đến nay, nhiều công trình hạ tầng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đã được đầu tư, đưa vào sử dụng30; đồng thời đang triển khai thực hiện một số dự án lớn (31).

2.2. Khâu đột phá về nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế - xã hội: Đã thành lập Viện Nông nghiệp Thanh Hóa, Trung tâm Đào tạo chuyển giao công nghệ thông tin; các phòng thí nghiệm, thử nghiệm của cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp được đầu tư nâng cấp. Đã chuyển giao và ứng dụng thành công nhiều quy trình công nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, các kỹ thuật mới, phức tạp trong khám, chữa bệnh tại các bệnh viện tuyến tỉnh. Số lượng nhiệm vụ khoa học công nghệ được triển khai tăng mạnh, trong đó có 33 nhiệm vụ cấp quốc gia, gấp 2 lần giai đoạn 2011 - 2015. Đã có 44 sản phẩm của tỉnh được xây dựng tiêu chuẩn và được bảo hộ về sở hữu trí tuệ; 100% dự án đầu tư có nguy cơ tác động xấu đến môi trường được thẩm định công nghệ theo quy định. Nguồn nhân lực khoa học công nghệ tăng về số lượng, chất lượng được nâng cao; xây dựng được 4 nhóm chuyên gia khoa học công nghệ trên các lĩnh vực nông nghiệp, y học, công nghệ thông tin; toàn tỉnh hiện có 3.116 cán bộ tham gia nghiên cứu khoa học, tăng 8% so với năm 2015. Kinh phí từ ngân sách đầu tư cho khoa học công nghệ trong giai đoạn 2016 - 2020 gấp 1,4 lần giai đoạn 2011 - 2015.

2.3. Khâu đột phá về đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh: Đã thành lập, đưa vào hoạt động Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Thanh Hóa và các trung tâm hành chính công cấp huyện. Đưa vào sử dụng, cung cấp 100% các dịch vụ công trực tuyến mức độ 2; 623 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 177 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 cấp tỉnh, cấp huyện. Các chỉ tiêu quan trọng trong cải cách hành chính được cải thiện; thời gian thực hiện các thủ tục hành chính được rút ngắn so với quy định của Trung ương, góp phần giảm thời gian và tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp (32).

2.4. Khâu đột phá về nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng; phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của đảng viên; tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác cán bộ: Các cấp ủy đảng đã rà soát, củng cố các tổ chức đảng yếu kém; tập trung cụ thể hóa và triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Kết luận số 38-KL/TW ngày 13-11-2018 của Bộ Chính trị về “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”; tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh hàng năm đạt trên 45%, đạt mục tiêu Đại hội. Chú trọng rà soát, sửa đổi, bổ sung ban hành các quy chế, quy định về phân công, phân cấp quản lý tổ chức bộ máy và cán bộ, về bổ nhiệm cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử, để đổi mới, nâng cao chất lượng công tác cán bộ; mở 3 lớp bồi dưỡng cán bộ dự nguồn Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của tỉnh nhiệm kỳ 2020 - 2025 và 2021 - 2026; 100% huyện, thị xã, thành phố đã mở các lớp bồi dưỡng cán bộ dự nguồn Ban Chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 2020 - 2025. Triển khai thực hiện nghiêm túc quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ chủ chốt các cấp.

IV. NGUYÊN NHÂN KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

  1. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc Thanh Hóa triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sắc, giúp đỡ có hiệu quả của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương. Các chủ trương, chính sách, một số dự án lớn được thu hút đầu tư, xây dựng từ các nhiệm kỳ trước đã đi vào hoạt động và phát huy hiệu quả, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Việc thể chế Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII hoàn thành ngay từ năm đầu của nhiệm kỳ, tạo hành lang pháp lý, môi trường thuận lợi, điều kiện để các cấp, các ngành triển khai thực hiện đạt kết quả cao.
  2. Đoàn kết, thống nhất trong Đảng bộ, trong nhân dân được tăng cường; các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã nỗ lực phấn đấu, có quyết tâm cao trong triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ.
  3. Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã chú trọng xây dựng các quy hoạch, định hướng rõ về sự phát triển; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp thu hút đầu tư, huy động tối đa các nguồn lực cho phát triển; kịp thời giải quyết các khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án, đặc biệt là các dự án quy mô lớn đẩy nhanh tiến độ thực hiện, sớm đi vào hoạt động ổn định, đạt công suất thiết kế, đã tạo ra động lực lớn, sự đột phá, sức lan tỏa mạnh mẽ cho phát triển kinh tế - xã hội.
  4. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết kịp thời, hiệu quả các vấn đề đột xuất, phát sinh, như: Thiên tai, dịch bệnh, các vấn đề phức tạp về an ninh trật tự, tạo sự ổn định, môi trường thuận lợi cho kinh tế - xã hội phát triển.
  5. Giữ vững và tăng cường được kỷ luật, kỷ cương, nâng cao được trách nhiệm của các cấp, các ngành, đặc biệt là người đứng đầu các cấp ủy, cơ quan, đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

B. HẠN CHẾ, KHUYẾT ĐIỂM VÀ NGUYÊN NHÂN

I. HẠN CHẾ, KHUYẾT ĐIỂM

1. Về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh

1.1. Còn 1 chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XVIII đề ra không đạt kế hoạch (GRDP bình quân đầu người)33. Chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp; năng suất lao động xã hội thấp hơn bình quân cả nước.

Tái cơ cấu ngành nông nghiệp còn chậm. Diện tích đất được tích tụ, tập trung, sản xuất hàng hóa quy mô lớn chưa nhiều. Việc gắn kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp còn nhiều khó khăn; sản phẩm sau chế biến còn ít, phần lớn là ở dạng thô, sơ chế, giá trị gia tăng thấp; sản phẩm có thương hiệu, sản phẩm xuất khẩu chưa nhiều. Thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh.

Khả năng cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp truyền thống còn thấp. Một số dự án công nghiệp hiệu quả chưa cao, gây ô nhiễm môi trường. Hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp được đầu tư, nhưng tiến độ chậm; tỷ lệ lấp đầy một số khu công nghiệp còn thấp.

Dịch vụ có giá trị gia tăng cao phát triển chưa mạnh. Sản phẩm du lịch còn ít, kết nối các tour, điểm du lịch trong và ngoài tỉnh còn hạn chế. Xuất khẩu chủ yếu vẫn là hàng hóa gia công, sản phẩm thô, giá trị gia tăng thấp.

1.2. Số lượng dự án quy mô lớn, công nghệ cao trên địa bàn tỉnh còn ít. Nhiều dự án triển khai chậm do vướng mắc về giải phóng mặt bằng. Nhiều dự án bất động sản sau khi trúng đấu giá chưa đầu tư hạ tầng đồng bộ, chỉ tổ chức bán đất nền nên không tạo ra được giá trị mới và kiến trúc cảnh quan cho các khu dân cư, đô thị.

1.3. Cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh một số mặt còn hạn chế; Chỉ số cải cách hành chính xếp thứ hạng thấp so với cả nước (34); một số chỉ số thành phần trong Chỉ số PCI xếp thứ hạng thấp. Hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chưa cao; chưa có doanh nghiệp giữ vai trò đầu tàu, dẫn dắt.

1.4. Kết cấu hạ tầng vẫn còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và khu vực miền núi. Huy động vốn từ các thành phần kinh tế tham gia vào đầu tư kết cấu hạ tầng còn hạn chế.

Chất lượng phát triển đô thị chưa cao, các đô thị trên địa bàn tỉnh còn thiếu bản sắc, kiến trúc riêng; việc tổ chức các dịch vụ công, dịch vụ xã hội cơ bản tại một số khu đô thị mới còn chậm.

1.5. Chất lượng giáo dục đại trà chưa cao; tình trạng thừa, thiếu giáo viên, không đồng bộ về cơ cấu chưa được giải quyết căn bản; cơ sở vật chất nhiều trường học còn khó khăn. Chất lượng y tế cơ sở còn thấp. Không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm còn xảy ra nhiều nơi. Nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện đúng, đầy đủ các chính sách đối với người lao động; nợ đóng bảo hiểm xã hội trong doanh nghiệp còn cao; đình công, ngừng việc tập thể, tai nạn lao động vẫn còn xảy ra.

1.6. Công tác quản lý tài nguyên, khoáng sản ở một số địa phương còn hạn chế. Hoạt động khai thác, tập kết, kinh doanh cát, khoáng sản trái phép còn diễn ra. Việc quản lý, sử dụng đất còn bất cập, sai phạm trong quản lý đất đai còn xảy ra ở một số địa phương. Ô nhiễm môi trường xảy ra; một số cơ sở sản xuất chưa thực hiện nghiêm việc xử lý chất thải, nước thải; hạ tầng xử lý rác thải sinh hoạt ở hầu hết các địa phương còn thiếu; hệ thống hạ tầng kỹ thuật về bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề, khu du lịch chưa được đầu tư đồng bộ.

1.7. An ninh trên tuyến biên giới, tuyến biển và một số địa bàn trọng điểm còn tiềm ẩn yếu tố có thể gây mất ổn định. Tội phạm hoạt động có tổ chức, tội phạm ma túy, tội phạm sử dụng công nghệ cao còn diễn biến phức tạp. Hoạt động tôn giáo trái pháp luật vẫn còn diễn ra ở một số địa phương. Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân hiệu quả chưa cao. Đơn thư khiếu kiện, đặc biệt là đơn thư liên quan đến đất đai, giải phóng mặt bằng gia tăng.

1.8. Kết quả thực hiện Chương trình đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực và Khâu đột phá về nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ khoa học - kỹ thuật còn hạn chế.

2. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị

2.1. Còn 1 chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XVIII đề ra không đạt kế hoạch (số đảng viên kết nạp mới bình quân hàng năm).

2.2. Chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng của một số cấp ủy, tổ chức đảng còn hạn chế. Tính tiền phong, gương mẫu, tinh thần trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên còn yếu kém, đặc biệt có một số cán bộ, công chức, đảng viên sa sút về tư tưởng chính trị, nhũng nhiễu trong thực thi công vụ, vi phạm quy định của Đảng và Nhà nước, gây bức xúc trong cơ quan, đơn vị và tạo dư luận xã hội không tốt.

2.3. Vẫn còn tổ chức cơ sở đảng yếu kém, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu suy giảm. Công tác phát triển đảng viên ở khu vực nông thôn, miền núi, doanh nghiệp ngoài Nhà nước còn khó khăn. Một số địa phương, cơ quan, đơn vị đánh giá cán bộ còn nể nang, chưa thực chất. Việc tiếp nhận, bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, điều động cán bộ ở một số nơi còn để xảy ra sai sót. Tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ người dân tộc thiểu số trong cấp ủy, trong lãnh đạo các ngành, địa phương còn thấp.

2.4. Công tác kiểm tra, giám sát của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa được quan tâm đúng mức, có trường hợp cán bộ, đảng viên vi phạm nhưng chậm được phát hiện, xử lý. Kết quả khắc phục những hạn chế, yếu kém sau kiểm tra, giám sát còn hạn chế. Công tác phòng chống tham nhũng hiệu lực, hiệu quả chưa cao, còn xảy ra tham nhũng trong quá trình thực hiện các chính sách phát triển kinh tế, quản lý và sử dụng đất đai ở một số địa phương.

2.5. Hoạt động các ban của HĐND cấp huyện, cấp xã hiệu quả chưa cao. Quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực như: Quy hoạch, đất đai, khoáng sản, môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, thực hiện chế độ BHXH còn hạn chế.

2.6. Hoạt động của hệ thống dân vận có lúc, có nơi chưa thật sự sâu sát cơ sở, nên chưa tham mưu giải quyết kịp thời, hiệu quả một số vấn đề phát sinh, còn để xảy ra các vụ việc nổi cộm trong nhân dân, khiếu kiện đông người, vượt cấp, đình công. Hoạt động của một số đoàn thể, nhất là ở cơ sở còn nhiều khó khăn; một số phong trào thi đua còn hình thức; việc thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội chưa được nhiều, hiệu quả chưa cao.

II. NGUYÊN NHÂN CỦA CÁC HẠN CHẾ, YẾU KÉM

1. Nguyên nhân khách quan: Tình hình chính trị, kinh tế thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, khó lường, ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư, thương mại. Chính phủ tiếp tục thực hiện chính sách thắt chặt đầu tư công, ảnh hưởng đến nhiều chương trình, dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từ nguồn vốn ngân sách Trung ương. Thiên tai, dịch bệnh thường xuyên xảy ra ở nhiều địa phương, đặc biệt là các đợt lũ lụt năm 2017, năm 2018, năm 2019; dịch tả lợn châu Phi và dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp (Covid-19) đã gây ra thiệt hại lớn về sản xuất, ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhân dân trong tỉnh. Một số văn bản quy phạm pháp luật còn chồng chéo, bất cập, ảnh hưởng đến việc triển khai các dự án đầu tư, sản xuất và đời sống nhân dân.

2. Nguyên nhân chủ quan

- Một số cấp ủy đảng, chính quyền, lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa chủ động, thiếu sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện nhiệm vụ; năng lực dự báo và khả năng khắc phục, giải quyết những khó khăn, vướng mắc ở ngành, địa phương, đơn vị còn hạn chế; có tình trạng né tránh, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm trong tham mưu, tổ chức thực hiện, phối hợp giải quyết công việc, làm ảnh hưởng đến tiến độ triển khai một số nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

- Việc phân cấp, phân quyền gắn với quy định trách nhiệm của các ngành, các cấp chưa mạnh và chưa đồng bộ. Một số chủ trương, cơ chế, chính sách của tỉnh đã ban hành triển khai thực hiện chậm, có những bất cập nhưng chưa sửa đổi, bổ sung kịp thời. Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước của một số ngành, địa phương còn hạn chế.

- Một số tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị chưa làm tốt công tác quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực thi công vụ của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; kỷ cương trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ chưa nghiêm. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa thực hiện nghiêm trách nhiệm nêu gương; tính sáng tạo, tinh thần trách nhiệm giảm sút, chất lượng tham mưu, kết quả thực hiện nhiệm vụ thấp, có tình trạng “cơ quan, đơn vị số lượng cán bộ, công chức nhiều, nhưng thiếu người làm việc”.

- Một số hạn chế, yếu kém đã xuất hiện từ trước, kéo dài nhiều năm nhưng chưa được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết, khắc phục triệt để.

C. ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Năm 5 năm qua, trong bối cảnh có nhiều thuận lợi, nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thách thức; được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ của Trung ương, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân các dân tộc Thanh Hóa đã phát huy truyền thống đoàn kết, cách mạng, chủ động, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu đạt được nhiều thành tựu quan trọng và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, có 26/28 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch; nổi bật là: (1) Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân dự kiến đạt 12,5%, vượt mục tiêu Đại hội, trong nhóm các tỉnh, thành phố có tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước. (2) Đã có 6 đơn vị cấp huyện, 376 xã (chiếm 64,46%) đạt chuẩn nông thôn mới, vượt cao so với mục tiêu Đại hội; tỷ lệ đô thị hóa dự kiến đạt 35%, đạt mục tiêu Đại hội; bộ mặt đô thị, nông thôn có nhiều khởi sắc theo hướng hiện đại, văn minh. (3) Văn hóa - xã hội đạt nhiều kết quả nổi bật: Giáo dục mũi nhọn và thể thao thành tích cao luôn đứng trong nhóm các tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước; xã hội hóa y tế được đẩy mạnh, đã ứng dụng, chuyển giao thành công nhiều kỹ thuật mới, phức tạp tại các bệnh viện tuyến tỉnh; tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt. (4) Quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội luôn được bảo đảm, giữ vững ổn định, tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế - xã hội phát triển. (5) Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được thực hiện đồng bộ, sáng tạo, đạt nhiều kết quả; là một trong các tỉnh đi đầu trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy và các đơn vị hành chính cấp xã, thôn, tổ dân phố theo các nghị quyết của Trung ương; năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cấp ủy đảng, chính quyền được nâng cao.

Những thành tựu đạt được trong nhiệm kỳ qua là rất lớn và có ý nghĩa quan trọng; có thể khẳng định chưa bao giờ tỉnh ta có được tiềm lực và vị thế như ngày nay; đó là cơ sở, điều kiện để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh tiếp tục vững bước tiến lên, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu CNH, HĐH và chủ động hội nhập quốc tế.

Từ thực tiễn phong trào cách mạng và công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong nhiệm kỳ qua, rút ra một số bài học kinh nghiệm sau đây:

Một là, thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng và hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; giữ vững đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân trên cơ sở các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; khơi dậy niềm tự hào về truyền thống cách mạng, lịch sử, văn hóa của quê hương, ý chí, khát vọng vươn lên của cán bộ, đảng viên và của toàn dân, để cùng nhau nỗ lực, phấn đấu vì sự phát triển đi lên của tỉnh.

Hai là, trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phải xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm và phân công trách nhiệm cụ thể cho từng cấp, từng ngành; đồng thời thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát, đôn đốc thực hiện. Dồn sức cho các đột phá, các dự án trọng điểm để tạo ra động lực lớn, sức lan tỏa mạnh mẽ cho phát triển kinh tế - xã hội.

Ba là, chú trọng khai thác và phát huy hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh của tỉnh; giải quyết kịp thời, hiệu quả các khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn cản trở sự phát triển; đẩy mạnh xã hội hóa, huy động cao nhất nguồn lực từ doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh, các nguồn lực từ bên ngoài để tạo ra tốc độ phát triển nhanh.

Bốn là, quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp có phẩm chất, năng lực, dám nghĩ, dám làm, có trách nhiệm cao đối với sự phát triển của tỉnh và các địa phương, đơn vị. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của mỗi cán bộ, công chức, viên chức, nhất là tập thể lãnh đạo, quản lý và cá nhân người đứng đầu các cấp, các ngành trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

Phần thứ hai

PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ

CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHIỆM KỲ 2020- 2025

Dự báo trong nhiệm kỳ 2020-2025, có những thuận lợi cơ bản do dòng vốn đầu tư có xu hướng dịch chuyển vào các nước đang phát triển và khu vực châu Á; xu hướng dịch chuyển các nhà máy sản xuất công nghiệp FDI từ Trung Quốc sang các quốc gia Đông Nam Á, tạo cơ hội cho tỉnh thu hút các nguồn vốn cho phát triển kinh tế - xã hội. Các hiệp định thương mại được ký kết giữa Việt Nam và các nước, tạo cơ hội thu hút các nguồn vốn, công nghệ, đẩy mạnh xuất khẩu cho nước ta. Trong tỉnh, những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội trong những năm qua, đặc biệt là trong nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã tạo ra thế và lực mới; môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng được cải thiện, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước được đầu tư theo hướng đồng bộ, hiện đại, tạo thuận lợi cho thu hút đầu tư; cùng với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ của Trung ương và khát vọng vươn lên mạnh mẽ của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh; là những yếu tố thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới.

Tuy nhiên, tình hình thế giới vẫn diễn biến phức tạp, khó lường, suy thoái tại một số nền kinh tế lớn có thể xảy ra; chủ nghĩa dân tộc, tranh chấp lãnh thổ, đặc biệt là tranh chấp trên biển Đông diễn biến phức tạp và kéo dài với sự tham gia của nhiều bên. Trong nước, độ mở của nền kinh tế lớn nên tác động tiêu cực của kinh tế thế giới đến kinh tế trong nước nhanh và mạnh hơn; khả năng độc lập, tự chủ của nền kinh tế chịu ảnh hưởng mạnh từ biến động của hoạt động sản xuất khu vực đầu tư nước ngoài và một số thị trường lớn. Trong tỉnh, những khó khăn, yếu kém trong nội tại nền kinh tế, như: Chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của các sản phẩm, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp; năng lực khoa học công nghệ còn hạn chế; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn thiếu; thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp, khó lường; tinh thần trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức còn hạn chế; là những yếu tố tác động bất lợi đến sự phát triển của tỉnh.

A. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, CHƯƠNG TRÌNH TRỌNG TÂM VÀ CÁC KHÂU ĐỘT PHÁ

I. PHƯƠNG HƯỚNG CHUNG

Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; phát huy truyền thống văn hóa, lịch sử, khát vọng thịnh vượng và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; phát triển kinh tế nhanh và bền vững trên cơ sở tập trung phát triển 4 trung tâm kinh tế động lực, 5 trụ cột tăng trưởng, 6 hành lang kinh tế và 6 vùng liên huyện; tiếp tục coi phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới là nền tảng, công nghiệp là then chốt, dịch vụ là quan trọng; tăng cường ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ khoa học công nghệ; đẩy mạnh xã hội hóa, nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa - xã hội và đời sống của nhân dân; giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường; bảo đảm vững chắc quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; phấn đấu đến năm 2025 trong nhóm các tỉnh dẫn đầu cả nước, đến năm 2030 trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại.

II. PHƯƠNG CHÂM HÀNH ĐỘNG

Đoàn kết - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển.

III. CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

* Về chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân hàng năm

Phương án 1 (phương án cao): Tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2021 - 2025 đạt 11% trở lên và GRDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 5.200 USD.

Phương án này được tính toán dựa trên cơ sở: Trong lĩnh vực công nghiệp, Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn hoạt động ổn định, công suất đạt 95% trở lên (đạt 7,6 triệu tấn sản phẩm trở lên); các cơ sở công nghiệp hiện có duy trì sản xuất và mở rộng hoạt động, nâng cao công suất, sản lượng; các dự án công nghiệp đang triển khai thực hiện bảo đảm tiến độ theo kế hoạch; thu hút thêm một số dự án công nghiệp quy mô lớn và được triển khai thực hiện, có sản phẩm trong giai đoạn 2021 - 2025, đóng góp khoảng 25,5% tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2025. Các ngành dịch vụ phát triển trong điều kiện thuận lợi; các dự án trong lĩnh vực dịch vụ (du lịch, vận tải, cảng biển, đô thị...) được triển khai thực hiện bảo đảm kế hoạch. Ngành nông nghiệp không gặp thiên tai, dịch bệnh lớn; các dự án lớn trong lĩnh vực nông nghiệp được triển khai nhanh, phát huy hiệu quả.

Phương án 2 (phương án khá): Tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2021 - 2025 đạt 10% trở lên và GRDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 5.000 USD.

Phương án này được tính toán dựa trên cơ sở: Trong lĩnh vực công nghiệp, Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn hoạt động ổn định, công suất đạt 90% - 95% (đạt 7,4 triệu tấn sản phẩm); các cơ sở công nghiệp hiện có duy trì sản xuất và mở rộng hoạt động, nâng cao công suất, sản lượng; các dự án công nghiệp đang triển khai thực hiện bảo đảm tiến độ theo kế hoạch; thu hút thêm một số dự án công nghiệp quy mô lớn và được triển khai thực hiện, có sản phẩm trong giai đoạn 2021 - 2025, đóng góp khoảng 22% tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2025. Các ngành dịch vụ phát triển tương đối thuận lợi; các dự án trong lĩnh vực dịch vụ (du lịch, vận tải, cảng biển, đô thị...) được triển khai thực hiện bảo đảm kế hoạch. Ngành nông nghiệp không gặp thiên tai, dịch bệnh lớn; các dự án lớn trong lĩnh vực nông nghiệp triển khai bảo đảm kế hoạch.

Phương án 3 (phương án trung bình): Tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2021 - 2025 đạt 9% trở lên và GRDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 4.750 USD.

Phương án này được tính toán dựa trên cơ sở: Trong lĩnh vực công nghiệp, Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn hoạt động ổn định, công suất tối đa đạt 90% (đạt 7,2 triệu tấn sản phẩm); các cơ sở công nghiệp hiện có duy trì sản xuất và mở rộng hoạt động, nâng cao công suất, sản lượng; các dự án công nghiệp đang triển khai thực hiện bảo đảm tiến độ theo kế hoạch; thu hút thêm một số dự án công nghiệp quy mô lớn và được triển khai thực hiện, có sản phẩm trong giai đoạn 2021 - 2025, đóng góp khoảng 18% tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2025. Các ngành dịch vụ có bước phát triển; các dự án trong lĩnh vực dịch vụ (du lịch, vận tải, cảng biển, đô thị...) được triển khai thực hiện bảo đảm kế hoạch. Ngành nông nghiệp không gặp thiên tai, dịch bệnh lớn; các dự án lớn trong lĩnh vực nông nghiệp cơ bản bảo đảm theo kế hoạch.

Đề xuất lựa chọn phương án 2 (phương án khá), vừa đảm bảo tính phấn đấu và tính khả thi trong quá trình thực hiện.

Trên cơ sở đó đề xuất các chỉ tiêu chủ yếu như sau:

1. Về kinh tế

-Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân đạt 10% trở lên.

- Cơ cấu các ngành kinh tế trong GRDP năm 2025: Nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 6%; công nghiệp - xây dựng chiếm 53,5%, dịch vụ chiếm 31%, thuế sản phẩm chiếm 9,5%.

- GRDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 5.000 USD trở lên35.

- Tổng huy động vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm đạt 650 nghìn tỷ đồng trở lên.

- Kim ngạch xuất khẩu năm 2025 đạt 8 tỷ USD.

- Sản lượng lương thực hàng năm ổn định ở mức 1,5 triệu tấn.

- Số doanh nghiệp thành lập mới 5 năm đạt 15.000 doanh nghiệp.

- Tỷ lệ đô thị hóa năm 2025 đạt 40% trở lên.

- Diện tích đất nông nghiệp được tích tụ, tập trung để sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao đến năm 2025 tăng thêm 32.000ha.

- Đến hết năm 2025 có 17 huyện, thị xã, thành phố, 88% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; 25% số xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; 8% số xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; bình quân toàn tỉnh đạt 18,6 tiêu chí/xã.

- Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân hàng năm tăng 8%.

2. Về văn hóa - xã hội

- Tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm dưới 1%.

- Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm theo tiêu chí mới của giai đoạn 2021 - 2025 từ 1,5% trở lên.

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2025 đạt 75%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 30%.

- Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội đến năm 2025 dưới 30%.

- Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế năm 2025 đạt trên 95%.

- Số bác sĩ trên/1 vạn dân năm 2025 đạt 13 bác sĩ.

- Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đến năm 2025 đạt 81%.

- Đến năm 2025 có 100% xã, phường, thị trấn đạt tiêu chí an toàn thực phẩm; 20% trở lên xã, phường, thị trấn đạt tiêu chí an toàn thực phẩm nâng cao.

- Tỷ lệ xã, phường, thị trấn, cơ quan đạt tiêu chí kiểu mẫu năm 2025 đạt 20% trở lên.

3. Về môi trường

- Tỷ lệ che phủ rừng năm 2025 đạt 54%.

- Tỷ lệ dân số nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh năm 2025 đạt 98,5%, trong đó có 65% dân số nông thôn sử dụng nước sạch theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế.

- Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý đến năm 2025 đạt 90%.

4. Về an ninh trật tự

- Hàng năm có 80% xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh trật tự.

5. Về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị

- Hàng năm kết nạp 3.000 đảng viên mới trở lên.

- Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ hàng năm đạt 80% trở lên.

IV. CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRỌNG TÂM

1. Chương trình phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2021 - 2025:

Đẩy mạnh tích tụ, tập trung đất đai để phát triển nông nghiệp quy mô lớn, công nghệ cao, tạo ra sản phẩm có năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh cao. Tiếp tục đầu tư hoàn thiện hệ thống hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp. Rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành các cơ chế, chính sách đủ mạnh để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào khu vực nông nghiệp, nông thôn. Đẩy mạnh thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), phấn đấu có 100 sản phẩm được chứng nhận là sản phẩm OCOP cấp tỉnh và 3 sản phẩm đề xuất Trung ương công nhận là sản phẩm OCOP Quốc gia; từng bước xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, khả năng cạnh tranh cao, thích ứng với biến đổi khí hậu, trở thành một trong những trụ cột tăng trưởng. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, chú trọng xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu, với kết cấu hạ tầng hiện đại, cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động hợp lý, các hình thức tổ chức sản xuất hiệu quả, trình độ dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái, các giá trị văn hóa ở nông thôn được bảo vệ; phấn đấu đến hết năm 2025 có 17 huyện, thị xã, thành phố, 88% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; 25% số xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; 8% số xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; bình quân toàn tỉnh đạt 18,6 tiêu chí/xã.

2. Chương trình phát triển Khu Kinh tế Nghi Sơn và các Khu công nghiệp, giai đoạn 2021 - 2025: Ưu tiên bố trí vốn ngân sách và tập trung huy động tối đa các nguồn lực để đầu tư kết cấu hạ tầng Khu Kinh tế Nghi Sơn và các Khu công nghiệp theo hướng hiện đại. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xúc tiến đầu tư, thu hút các dự án đầu tư vào Khu Kinh tế Nghi Sơn và các Khu công nghiệp, ưu tiên các dự án quy mô lớn, công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn, cùng với đẩy nhanh tiến độ các dự án đang triển khai để tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Xây dựng và phát triển Khu Kinh tế Nghi Sơn trở thành một trong những trung tâm công nghiệp - đô thị - dịch vụ ven biển trọng điểm của cả nước; trở thành khu kinh tế tổng hợp đa ngành, đa lĩnh vực với trọng tâm là các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao, công nghiệp nặng và công nghiệp cơ bản, công nghiệp chế biến, chế tạo; là đầu mối quan trọng, nơi trao đổi hàng hóa, kết nối vùng Bắc Lào, Đông Bắc Thái Lan, vùng phụ cận Thanh Hóa. Tăng cường phân cấp, ủy quyền cho Ban Quản lý Khu Kinh tế Nghi Sơn và các Khu công nghiệp, gắn với đề cao trách nhiệm, bảo đảm các quy định của pháp luật. Phấn đấu tổng giá trị sản xuất công nghiệp, dịch vụ, thương mại của tại Khu Kinh tế Nghi Sơn và các Khu công nghiệp giai đoạn 2021 - 2025 đạt 1.125.000 tỷ đồng; giá trị xuất khẩu đạt 18,6 tỷ USD; nộp ngân sách Nhà nước đạt 118.800 tỷ đồng; giải quyết việc làm thêm cho 35.000 lao động.

3. Chương trình phát triển du lịch, giai đoạn 2021 - 2025: Khai thác và phát huy tốt tiềm năng, lợi thế, xây dựng ngành du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn trong kinh tế dịch vụ, thuộc nhóm các tỉnh có ngành du lịch phát triển của cả nước. Trong đó, tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch các khu, điểm du lịch, làm cơ sở để đầu tư khai thác và phát huy tiềm năng, lợi thế đẩy mạnh ph&aacu